Logo Trung tâm AN
Trung tâm AN
Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học Tâm lý-Giáo dục
Research and Applied Psychology and Educational Science
Hà Nội, Việt Nam · Thành lập 2018
Hanoi, Vietnam · Established 2018

Ở nhà An, con học gì thì cha mẹ học nấy.

At AN, whatever the child is learning, the parents learn too.

Trung tâm AN nhận đánh giá và can thiệp cho trẻ từ 12 đến 72 tháng: chậm phát triển ngôn ngữ, rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp, tăng động giảm chú ý, và tự kỷ.

AN Center provides assessment and intervention for children aged 12 to 72 months: language delay, language and communication disorders, attention deficit hyperactivity disorder, and autism.

Ngay từ ngày đầu con vào chương trình, cả gia đình cùng vào cuộc.

From your child's first day in the programme, the family is part of it — because the person who spends the most hours with your child each day is you, not us.

Sảnh đón của Trung tâm AN
Trẻ 12–72 tháng Đại Mỗ, Hà Nội Hoạt động từ 2018
Children 12–72 months Dai Mo, Hanoi Operating since 2018
Khi nào nên cho con đi đánh giá
When to have your child assessed

Lúc nào thì nên cho con đi khám?

Signs worth asking a professional about

Mỗi đứa trẻ lớn lên theo nhịp riêng, nên những điều dưới đây không phải là chẩn đoán. Nhưng nếu con có vài dấu hiệu ở đúng mốc tuổi, anh chị nên cho con đi đánh giá.

Every child follows their own pace, and the list below is not a diagnosis. But if your child shows several of these signs at their age, that is reason enough to ask — not to worry more, but to know.

Khoảng 12 tháng
Around 12 months
  • Con chưa bi bô như đang nói chuyện
  • Con không chỉ tay, không vẫy tay chào, không chìa đồ cho người lớn xem
  • Gọi tên con không quay lại, dù tai con nghe bình thường
  • Con ít nhìn vào mắt người chơi với mình
  • Not yet babbling in strings of sounds with speech-like intonation
  • Does not point, wave, or hold objects up to show an adult
  • Does not turn when called by name, with normal hearing
  • Rarely looks at the eyes of the person playing with them
Khoảng 18 tháng
Around 18 months
  • Con chưa nói được từ nào có nghĩa, hoặc rất ít từ
  • Con không chỉ tay để khoe hay để xin
  • Con không bắt chước việc người lớn làm hằng ngày
  • Con chưa hiểu câu quen thuộc như “đưa mẹ nào”, “đi lấy giày”
  • No meaningful single words yet, or a very small vocabulary
  • Does not point to show something or to request it
  • Does not imitate everyday actions they see adults do
  • Does not understand familiar phrases such as “give it to me”, “get your shoes”
Khoảng 24 tháng
Around 24 months
  • Con chưa ghép được hai từ: “mẹ bế”, “uống nước”
  • Con nói được chưa đến 50 từ
  • Con chưa chơi giả vờ: cho búp bê ăn, áp điện thoại đồ chơi lên tai
  • Con không để ý đến các bạn ở gần
  • Con kéo tay người lớn đến chỗ đồ muốn, thay vì gọi hoặc chỉ
  • Not yet putting two words together, such as “more milk”, “mummy carry”
  • Vocabulary below roughly fifty words
  • No pretend play yet — feeding a doll, holding a toy phone to the ear
  • Shows no interest in other children nearby
  • Pulls an adult's hand towards what they want instead of asking or pointing
Khoảng 3 tuổi
Around 3 years
  • Người ngoài nhà nghe con nói phần lớn không hiểu
  • Con chưa biết hỏi, chưa nói được câu từ ba từ trở lên
  • Con khó chơi luân phiên, khó chờ đến lượt
  • Con phản ứng rất mạnh khi phải dừng việc đang làm, khóc lâu và khó dỗ
  • People outside the family understand little of what the child says
  • Does not yet ask questions or use sentences of three words or more
  • Finds turn-taking and waiting difficult
  • Reacts very strongly to changes of activity, at length and hard to settle
4 – 5 tuổi
4 – 5 years
  • Con chưa kể lại được việc vừa xảy ra theo đúng trước sau
  • Người lạ nghe con nói khó hiểu
  • Con khó tập trung, khó ngồi yên hơn hẳn các bạn cùng tuổi
  • Con chưa kết bạn, hoặc chỉ chơi cạnh bạn chứ không chơi cùng
  • Cannot yet recount something that just happened in sequence
  • Speech is hard for unfamiliar people to understand
  • Noticeably harder to focus and sit still than same-age peers
  • Has not made friends, or plays beside other children rather than with them
Ở tuổi nào cũng vậy: nếu con từng nói được vài từ, từng nhìn vào mắt, từng chơi cùng người khác rồi mất đi, anh chị nên cho con đi khám sớm. At any age: if your child has lost a skill they once had — spoke a few words and stopped, made eye contact and stopped, played with others and stopped — seek an assessment promptly rather than waiting.
Trong lúc chờ
While you wait

Chưa đến buổi hẹn, anh chị vẫn làm được

There is something you can do tonight

Ghi lại những từ con nói, những điều gia đình lo lắng, những cách đã làm, và tốt hơn hãy dành ít nhất 15 phút mỗi ngày chơi vui vẻ cùng con.

Write down the words your child says, what worries your family, and what you have already tried. Better still, spend at least fifteen minutes a day playing happily with your child.

Bốn việc làm được ngayFour things you can do now

Quy trình đánh giá và tư vấn cho con

Assessment and consultation

1
Đặt lịch hẹn qua Zalo hoặc Facebook
Book an appointment on Zalo or Facebook
2
Đánh giá cùng chuyên gia
The assessment, with our specialist
Ngồi cùng con, trả lời các câu hỏi từ chuyên gia và phối hợp cùng khi cần.
You sit with your child, answer the specialist's questions, and join in when needed.
3
Tư vấn
The consultation
Lắng nghe để hiểu sự phát triển toàn diện của con, phương pháp can thiệp phù hợp, thời lượng can thiệp và những gì cần làm cho con tại nhà.
You hear about your child's development as a whole, which approach suits them, how many hours of intervention, and what to do with your child at home.
4
Gửi con vào chương trình can thiệp
Enrolling your child
Đăng ký can thiệp dựa theo tư vấn của chuyên gia và hoàn thành thủ tục đăng ký.
You enrol based on the specialist's advice and complete the paperwork.
Điều khác biệt
What is different here

Gia đình vào cuộc từ ngày đầu tiên

Families take part from day one

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, gia đình trẻ được hướng dẫn các kỹ năng can thiệp, sẽ sử dụng chúng hiệu quả trong các giờ sinh hoạt tại nhà, điều này giúp trẻ nhanh tiến bộ hơn. Ở An, gia đình là một thành tố quan trọng bậc nhất của can thiệp.

Research shows that when families are taught intervention skills, they use those skills well through everyday life at home, and children progress faster. At AN, the family is one of the most important elements of the intervention.

Sáu việc gia đình tham giaThe six things families take part in

Lời của cha mẹ

In parents' words

“Cô nói những mục tiêu này bình thường đặt cho một năm, nhưng với cường độ can thiệp ở AN thì con đi nhanh hơn được, nên cô rút còn sáu tháng. Em nghe mà không dám tin. Hết sáu tháng con đạt thật, giờ đã dừng can thiệp sớm và đi học mầm non như các bạn.”

“They told us these goals would normally be set for a year, but that with the intensity of intervention here our child could go faster, so they set them for six months. I did not dare believe it. At six months he had met them, and he has now finished early intervention and goes to preschool like the other children.”

— Mẹ một bé đã hoàn thành chương trình tại Trung tâm AN — Mother of a child who completed the programme at AN Center

“Em đi mấy nơi rồi, chỗ nào cũng bảo cứ cho con học đi rồi tính. Ngồi với cô Nha Trang buổi đầu, em được nghe rõ con đi theo lộ trình nào, mỗi tuần bao nhiêu giờ, và ở nhà em cần làm gì. Thích nhất là lúc nào em cũng biết con đang học gì, đang tiến đến đâu.”

“We had been to several places, and everywhere we were told to just enrol him and see. In our first meeting with Ms Nha Trang we were told exactly what path our child would follow, how many hours a week, and what we should be doing at home. What I like most is that I always know what my child is working on and how far he has come.”

— Mẹ một bé đang can thiệp tại Trung tâm AN — Mother of a child currently in the programme at AN Center

“Lúc các cô nói sẽ huấn luyện riêng cho em, em nghĩ mình có chuyên môn gì đâu mà làm được. Nhưng các cô chỉ cho từng kịch bản chi tiết, hai tuần sau em thấy mình làm được gần đúng. Tự mình dạy được con còn thích hơn là nghe cô giáo báo con tiến bộ mà mình không nhìn thấy gì.”

“When they said they would coach me one-to-one, I thought I had no training, how could I do it. But they walked me through each scenario in detail, and two weeks later I found I was doing it nearly right. Teaching my own child is more satisfying than being told he is making progress and seeing none of it myself.”

— Mẹ tham gia chương trình huấn luyện cha mẹ 1–1 — A mother in the one-to-one parent coaching programme at AN Center
Liên hệ
Contact

Anh chị hãy nhắn cho An để được chúng tôi gỡ rối những băn khoăn của gia đình về con.

Write to us, and we will help you work through what worries your family about your child.

Địa chỉ, số điện thoại và giờ làm việcAddress, phone and opening hours

Câu chuyện của An
Our story

Cái tên An

The name An

Cái tên An thật đặc biệt tới nỗi nó khiến cho quá trình xin giấy khai sinh cho An gặp nhiều ơi là nhiều băn khoăn, họ cứ hỏi, sao lại lấy cái tên cụt như thế.

The name An is so unusual that registering it brought no end of questions. People kept asking why we would take such a short, unfinished-sounding name.

Nhưng có lẽ cái tên cụt ấy lại bao hàm nhiều ý nghĩa, nó khác biệt nhưng nó toàn diện. Hôm nay An đã được chấp nhận là chính bản thân nó, không phải thay đổi tên tuổi.

Yet perhaps that short name holds a great deal. It is different, and it is whole. Today An is accepted as itself, without having to change its name.

Nhìn lại có cảm giác An giống như một đứa trẻ đẹp nhưng rất đặc biệt.
Looking back, An feels like a beautiful child who is also very different.
Logo
The logo

Câu chuyện về logo của An

The story behind the logo

Logo cỏ bốn lá trên tường Trung tâm AN

Logo của An là hình 4 trái tim ghép lại với nhau có hình cỏ 4 lá. Nó mang thông điệp: Hãy yêu thương, hãy tin tưởng vào các bé.

The logo of An is four hearts joined together in the shape of a four-leaf clover. Its message: love these children, believe in them.

Câu chuyện kể rằng đứa bé trên thế gian can đảm bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi qua bao thác ghềnh với một trái tim dũng cảm sẽ tìm được loại cỏ bốn lá, loại cỏ sẽ mang lại nụ cười hạnh phúc mãi mãi, nụ cười hạnh phúc của trẻ thơ.

The story goes that a child of this world who walks bravely into the deep forest, on and on past waterfalls and rapids with a courageous heart, will find the four-leaf clover, the plant that brings a happiness that lasts, the happiness of a child.

Khi tìm được ngọn cỏ bốn lá, đứa trẻ sẽ đứng trong gió, đặt ngọn cỏ vào trái tim nồng ấm và hát khúc ca đồng dao. Mỗi lá trên ngọn cỏ tượng trưng cho một thứ quý giá nhất của cuộc sống.

On finding it, the child stands in the wind, places the clover against a warm heart and sings an old nursery song. Each leaf stands for one of the most precious things in life.

Lá thứ nhất, đứa bé thì thầm
The first leaf, the child whispers
Niềm hi vọng
Hope
Lá thứ hai, đứa bé mỉm cười
The second leaf, the child smiles
Niềm tin
Faith
Lá thứ ba
The third leaf
Tình yêu
Love
Lá cuối cùng
The last leaf
Sự may mắn
Luck
Truyền thuyết
The legend

Bốn món quà thượng đế ban tặng

Four gifts, given at birth

Bốn món quà thượng đế ban tặng cho mỗi đứa trẻ khi chúng mới ra đời nhưng để tìm được chúng đứa trẻ ấy phải mãi đi tìm, tìm trong rừng sâu của cuộc đời với trái tim dũng cảm.

Four gifts given to every child at birth, but to find them the child must keep searching, searching through the deep forest of life with a courageous heart.

Với những đứa trẻ đặc biệt, khu rừng ấy rậm rạp hơn. Có con chưa nói ra được điều mình muốn. Có con chưa biết cách cho người khác hiểu mình. Con đường đi tìm vì thế dài hơn, và con không đi một mình được.

Có những lúc cả con và cha mẹ đều thấy mình lạc giữa rừng, rồi thẫn thờ mà hỏi:

For children who are different, that forest is thicker. Some cannot yet say what they want. Some do not yet know how to let others understand them. The path takes longer, and they cannot walk it alone.

There are moments when both the child and the parents feel lost among the trees, and ask:

Where is my four-leaf clover?
Where is my four-leaf clover?

Nhưng đứa trẻ đâu biết thượng đế trên cao đang mỉm cười:

But the child does not know that above them, someone is smiling:

  • Khi đứa trẻ đau vì vấp ngã, đó là tình yêu.
  • When the child hurts from the fall, that is love.
  • Khi đứa trẻ tin rằng mình không cô độc khi vấp ngã, đó là niềm tin.
  • When the child believes they are not alone in falling, that is faith.
  • Khi đứa trẻ nhìn thấy những đứa trẻ khác còn đau khổ hơn mình, đó là sự may mắn.
  • When the child sees other children suffering more, that is luck.
  • Và khi đứa trẻ nghĩ rằng mình phải đứng dậy là đi tiếp, đó là niềm hi vọng.
  • And when the child decides they must get up and carry on, that is hope.
Tôi tin rằng, mỗi đứa trẻ của chúng ta đều sẽ tìm được chiếc cỏ 4 lá cho chính mình.
I believe that every one of our children will find their own four-leaf clover.
Chữ An
The word An

An vui, an toàn, an yên

At ease, safe, at peace

Chữ AN, như cái tên nhẹ nhàng, ý nghĩa của chữ An không gì khác là một cảm giác rất an vui, an toàn, an yên cho các con học sinh và quý vị phụ huynh.

The word An, gentle as the name itself, means nothing other than a feeling of ease, of safety, of peace, for the children and for their parents.

Chúng tôi tin tưởng rằng, đứa trẻ học tốt nhất khi chúng biết rằng chúng được yêu thương và cảm thấy bình an.
We believe a child learns best when they know they are loved and feel at peace.

Tôi xin chia sẻ câu chuyện về chiếc logo và ý nghĩa của chữ An tới từng Quý vị với mong muốn chúng ta hãy cùng nhau tạo dựng nên một môi trường học tập lấy tôn chỉ là tình yêu thương và không ngừng tin tưởng vào mỗi con yêu của mình.

I share the story of the logo and the meaning of the name An with each of you, in the hope that together we may build a place of learning whose guiding principle is love, and an unceasing belief in each of our own dear children.

Người sáng lập
Founder
Chân dung Ths. Nguyễn Thị Nha Trang, người sáng lập Trung tâm AN

Ths. Nguyễn Thị Nha Trang

Người sáng lập Trung tâm AN. 22 năm làm việc trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt và can thiệp sớm.

Founder of AN Center. Twenty-two years in special education and early intervention.

  • 2012Thạc sĩ Khoa học, Chương trình Can thiệp sớm, Đại học Oregon, Hoa Kỳ — chuyên ngành Can thiệp sớm / Giáo dục đặc biệt cho trẻ từ sơ sinh đến 8 tuổi. Học bổng Fulbright của Chính phủ Hoa Kỳ.Master of Science, University of Oregon Early Intervention Program, USA — specialisation in Early Intervention / Early Childhood Special Education, birth to eight years. Fulbright scholarship, U.S. Department of State.
  • 2015Biên tập bản tiếng Việt bộ sàng lọc M-CHAT-R/FEditor, Vietnamese edition of the M-CHAT-R/F screening instrument
  • 2018Đồng dịch giả bản tiếng Việt bộ ASQ-3, Brookes Publishing, Hoa KỳCo-translator, Vietnamese edition of ASQ-3, Brookes Publishing, USA
  • 2025Chứng chỉ cao cấp DIR 203 của ICDL, Hoa Kỳ, về huấn luyện người chăm sóc, giáo viên và người cung cấp dịch vụAdvanced Certificate (DIR 203) from ICDL, USA, in coaching caregivers, teachers and other providers
Công cụ sàng lọc
Screening instruments

Hai công cụ sàng lọc chuẩn quốc tế, có bản tiếng Việt

Two international screening instruments, in Vietnamese

Hai bộ này được dùng ở nhiều nước. Người sáng lập Trung tâm AN tham gia chuyển ngữ cả hai sang tiếng Việt.

The founder of AN Center contributed to the Vietnamese editions of two widely used developmental screening instruments.

ASQ-3 — Ages & Stages Questionnaires
Đồng dịch giả bản tiếng Việt
Co-translator, Vietnamese edition

Bộ 21 bảng hỏi để cha mẹ tự điền, cho trẻ từ 1 tháng đến 5 tuổi rưỡi. Tiếng Việt là một trong năm thứ tiếng được nhà xuất bản thử nghiệm đầy đủ.

Twenty-one parent-completed questionnaires screening development from one month to five and a half years. Vietnamese is one of five languages the publisher develops and pilot-tests in full.

21 mốc tuổi sàng lọc, tính theo tháng
The 21 screening intervals, in months
Paul H. Brookes Publishing Co., 2018 · ISBN 978-1-68125-265-0
M-CHAT-R/F
Biên tập bản tiếng Việt
Editor, Vietnamese edition

Bảng kiểm sàng lọc nguy cơ tự kỷ cho trẻ 16–30 tháng, gồm hai giai đoạn: bảng hỏi cho cha mẹ và phỏng vấn theo dõi dành cho nhà chuyên môn. Bản dịch do CCIHP thực hiện, Ths. Nguyễn Thị Nha Trang biên tập, tháng 6 năm 2015. Phát miễn phí trên trang chính thức của bộ công cụ.
Xem bản tiếng Việt (PDF)

A two-stage screening instrument for autism risk in children aged 16–30 months: a parent questionnaire and a follow-up interview for professionals. Translated by CCIHP and edited by Nguyen Thi Nha Trang, June 2015. Distributed free of charge from the instrument’s official website.
View the Vietnamese edition (PDF)

© 2009 Robins, Fein & Barton · bản tiếng Việt 2015 · mchatscreen.com
Hợp tác quốc tế
International partnership

Project ECHO, Đại học New Mexico

Project ECHO, University of New Mexico

Từ tháng 6 năm 2018, Trung tâm AN là đối tác nhân rộng chính thức của Project ECHO thuộc Đại học New Mexico, Hoa Kỳ: chương trình cố vấn chuyên môn từ xa, nơi người làm nghề ở nhiều tỉnh thành mang ca thật ra bàn cùng nhau.

Since June 2018, AN Center has been an official replication partner of Project ECHO at the University of New Mexico — a tele-mentoring programme for practitioners across provinces, where real cases are discussed together.

Chương trình cố vấn chuyên môn từ xa Project ECHO — 12 tháng gần nhất
The Project ECHO tele-mentoring programme — most recent twelve months
187
phiên đã tổ chức
sessions delivered
7.709
lượt người tham dự
participant attendances
58
chủ đề chuyên môn
professional topics
300+
giờ đào tạo và hội thảo
hours of training and clinics
Đội ngũ
Our team

Các thầy cô của con

Your child’s teachers

Chương trình của mỗi trẻ được bốn đến năm chuyên viên cùng xây, và người trực tiếp làm việc với con mỗi ngày là các cô ở đây. Ở nhà An chúng tôi gọi nhau là Aners.

Each child's programme is built by four or five professionals, and these are the people who work with your child day to day. Among ourselves we are called Aners.

Phụ trách chuyên môn
Clinical leadership
Phạm Thị Diễm
Phạm Thị Diễm
Cử nhân Tâm lý học · Học viên thạc sĩ Giáo dục đặc biệt
BA in Psychology · Master’s candidate in Special Education
Giám đốc chuyên môn
Clinical director
Phạm Thanh Mai
Phạm Thanh Mai
Cử nhân Công tác xã hội · Học viên thạc sĩ Công tác xã hội
BA in Social Work · Master’s candidate in Social Work
Quản lý chuyên môn
Clinical manager
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialists
Đào Duy Thịnh
Đào Duy Thịnh
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Nguyễn Thu Phương
Nguyễn Thu Phương
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Bùi Thu Hà
Bùi Thu Hà
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Đỗ Minh Huyền
Đỗ Minh Huyền
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Đào Thị Mỹ Dung
Đào Thị Mỹ Dung
Cử nhân Giáo dục học
BA in Education
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Mai Thanh Loan
Mai Thanh Loan
Điều dưỡng
Nursing qualification
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Nguyễn Thị Phượng
Nguyễn Thị Phượng
Cử nhân Tâm lý học
BA in Psychology
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Phạm Thị Nhâm
Phạm Thị Nhâm
Cử nhân Giáo dục đặc biệt
BA in Special Education
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist

Hành trình phát triển chuyên môn của Aners

How an Aner grows

Tất cả giáo viên và chuyên viên ở AN tốt nghiệp từ bậc cử nhân trở lên, các ngành giáo dục mầm non, giáo dục đặc biệt, công tác xã hội, tâm lý giáo dục hoặc tham vấn tâm lý. Vào AN rồi, hành trình mới bắt đầu.

Every teacher and specialist at AN holds at least a bachelor's degree in early childhood education, special education, social work, educational psychology or counselling psychology. Once here, the journey begins.

Sáu tháng đầu
The first six months
1
Giáo viên thử việc
Trainee teacher
2
Giáo viên học việc
Apprentice teacher
3
Giáo viên chuẩn
Standard teacher
Sáu tháng đào tạo mới đạt mức giáo viên chuẩn
Six months of training to reach standard teacher
Những năm tiếp theo
The years after
4
Giáo viên chuẩn cấp độ mentor
Standard teacher, mentor level
5
Quản lý ca
Case manager
6
Giám đốc chuyên môn
Clinical director
Dù đang ở bậc nào trên hành trình này, mỗi Aner đều chịu trách nhiệm với đứa trẻ mình làm việc cùng. Wherever they are on this path, every Aner is responsible for the child they work with.
Nơi thực hành nghề
A place to practise

Trung tâm AN và An Academy Việt Nam

AN Center and An Academy Việt Nam

Trung tâm AN là nơi thực hành cho các chương trình đào tạo nhà chuyên môn của An Academy Việt Nam, học viên làm việc với ca thật dưới sự giám sát chuyên môn.

AN Center is the practice site for the professional training programmes of An Academy Việt Nam — trainees work with real cases under professional supervision.

Chương trình của con vì thế được nhiều người có chuyên môn cùng nhìn, cùng bàn.

The work with your child is therefore reviewed by several professionals, rather than resting on one person's judgement.

Dịch vụServices

Dịch vụ và chương trìnhServices and programme

Năm dịch vụThe five services
Chương trình của conYour child's programme
Cha mẹ
Parents

Sáu việc gia đình tham gia

The six things families take part in

Ngay từ ngày đầu con vào chương trình, gia đình tham gia vào sáu việc:

From your child's first day in the programme, you take part in six things:

1
Buổi đánh giá và tư vấn về chương trình, phương pháp can thiệp cho con
The assessment and the consultation on your child's programme and methods
2
Lộ trình ba tuần đầu của con
Your child's first three weeks
3
Đóng góp thông tin để hoàn thiện báo cáo phát triển của con
Contributing information that completes your child's developmental report
4
Họp 1–1 về chương trình cá nhân của con
One-to-one meetings about your child's individual programme
5
Học 1–1 để dạy con tại nhà
One-to-one coaching to teach your child at home
6
Theo dõi kết quả tại nhà hằng tuần, cho tới khi con dừng can thiệp
Tracking results at home each week, until your child finishes intervention
Phòng làm việc riêng, nơi họp 1–1 với cha mẹ

Trao đổi thông tin

Keeping in touch

Hằng tuần, anh chị nhận nhận xét kết quả can thiệp của con qua email và nhóm Zalo, kèm đường dẫn Google Drive.

Every week you receive notes on your child's progress by email and in the Zalo group, with a Google Drive link.

Bất cứ khi nào có băn khoăn về con hoặc về chương trình của con, anh chị hẹn gặp nhà chuyên môn của AN. Whenever you have a question about your child or their programme, you can book a meeting with an AN professional.
Dịch vụ 1
Service 1

Đánh giá phát triển

Developmental assessment

Hình thức 1Option one
Hình thức 2Option two
2.000.000 đ
5.000.000 đ
Đánh giá và tư vấn về phát triển, định hướng can thiệpAssessment and guidance on development and a direction for intervention
Đánh giá và xây dựng chương trình can thiệp cá nhânAssessment and an individual intervention programme
Đánh giá tổng quan các lĩnh vực phát triển: ngôn ngữ, giao tiếp, chơi, giác quan, nhận thức, vận độngAn overall assessment across language, communication, play, sensory processing, cognition and movement
Đánh giá chi tiết từng lĩnh vực: ngôn ngữ hiểu, ngôn ngữ diễn đạt, giao tiếp, chơi, vận động tinh, vận động thô, giác quan, nhận thứcA detailed assessment of each area: receptive and expressive language, communication, play, fine and gross motor, sensory processing, cognition
Hướng dẫn, giải thích về sự phát triển của trẻAn explanation of your child's development
Xác định khó khăn cốt lõi, thời gian và tần suất can thiệp, lĩnh vực ưu tiên, phương pháp phù hợpIdentifying the core difficulty, how long and how often, which areas to prioritise, which approach suits
Xây dựng chương trình can thiệp sáu tháng, với hệ thống mục tiêu rõ ràng, chi tiết, đo lường đượcA six-month intervention programme with clear, detailed, measurable goals
Gửi chương trình cho cha mẹ sau bảy ngày, không tính ngày nghỉ và ngày lễThe programme sent to parents within seven working days
Họp trực tiếp với cha mẹ từ 30 đến 45 phút để giải thích chương trình và trả lời băn khoănA 30 to 45 minute meeting in person with parents to explain the programme and answer questions
Còn học phí can thiệp?
And the intervention fee?
Học phí can thiệp không có một con số chung, vì số buổi mỗi con mỗi khác: có con học bán trú cả ngày, có con đến vài buổi một tuần. Sau buổi đánh giá, chuyên gia tư vấn số buổi phù hợp với con, và anh chị biết mức học phí cụ thể trước khi quyết định. Muốn biết trước, anh chị nhắn cho An qua Zalo. There is no single figure for intervention fees, because the number of sessions differs from child to child: some attend full day, others come a few sessions a week. After the assessment our specialist advises how many sessions suit your child, and you are given the exact fee before you decide. To ask beforehand, write to us on Zalo.

Chưa biết con mình hợp hình thức nào, anh chị nhắn cho An để được tư vấn.

If you are not sure which suits your child, write to us and we will advise.

Dịch vụ 2
Service 2

Huấn luyện cha mẹ

Parent coaching

Hướng dẫn 1–1 dành cho cha mẹOne-to-one coaching for parents

Chương trình hướng dẫn riêng cho từng gia đình, học trực tiếp tại trung tâm hoặc trực tuyến.

Coaching built for one family at a time, in person at the centre or online.

  • Anh chị được một chuyên viên kèm cặp riêng về kiến thức và kỹ năng, để đạt được các mục tiêu trong chương trình của con.
  • A specialist coaches you directly, in both knowledge and skill, towards the goals in your child’s programme.
  • Gồm buổi đánh giá để lên chương trình, và ít nhất năm đến mười buổi hướng dẫn trực tiếp một thầy một trò.
  • It includes an assessment to build the programme, and at least five to ten sessions of direct one-to-one coaching.
  • Người hướng dẫn anh chị là chuyên gia của An từ cấp quản lý ca trở lên.
  • You are coached by an AN specialist at case manager level or above.
Dịch vụ 3
Service 3

Can thiệp nhóm, học toàn thời gian

Group intervention, full day

Con học bán trú cả ngày. Trong một ngày, con có cả giờ học nhóm lẫn giờ học riêng.

Your child attends the full day, with both group sessions and individual sessions.

  • Chuyên viên can thiệp đánh giá và xây dựng chương trình sáu tháng cho con, như ở can thiệp cá nhân.
  • The specialist assesses your child and builds a six-month programme, as in one-to-one work.
  • Mỗi ngày con có hai giờ trị liệu nhóm, tập kéo dài thời gian chú ý, bắt chước, lắng nghe, chờ đến lượt, hiểu và làm theo luật chơi. Các kỹ năng này lấy từ chương trình sáu tháng của con.
  • Each day includes two hours of group therapy, extending attention span, imitation, listening, turn-taking, and following the rules of a game. These skills come from the programme.
  • Mỗi ngày con có thêm hai đến ba giờ học riêng một cô một trò, cũng theo chương trình ấy.
  • Each day also includes two to three hours one to one, following the same programme.
Giờ nhóm ở AN dùng Attention Autism, ở Việt Nam hay gọi là “hộp háo hức”. Cô giáo mở ra những chiếc hộp có đồ vật bất ngờ, khiến cả nhóm cùng dõi theo một thứ trong khoảng thời gian dài dần lên. Từ chỗ cùng nhìn, con học được cách cùng chờ, cùng chơi. Group time uses Attention Autism, known here as the “excitement box”. The teacher opens boxes holding surprising objects, so the whole group follows one thing together for longer and longer. From looking together, children learn to wait together, and to play together.
Lớp nhóm
In the group

Học nhóm, nhưng mỗi con vẫn có chương trình riêng

A group, but each child keeps their own programme

Con học nhóm để có một cộng đồng bạn bè nhỏ, nơi con tập chờ, tập quan sát, tập bắt chước và tập lần lượt. Những kỹ năng ấy khó nảy sinh trong giờ học một mình.

Children learn in a group so they have a small community of peers, where they practise waiting, watching, imitating and taking turns. Those skills rarely come up in a session alone.

Nhóm cũng là nơi con dùng lại những gì vừa học trong giờ cá nhân: tập ăn, vệ sinh, tự phục vụ, nói với bạn.

The group is also where a child uses what they have just learnt one-to-one: eating, hygiene, self-care, talking to another child.

Số cô trong lớp luôn nhiều. Lớp khó nhất có 3 đến 6 con với 3 đến 5 cô. Lớp khá hơn giữ tỷ lệ một cô kèm 1,5 đến 1,75 con. Lớp con đã có ngôn ngữ khá và ít hành vi thì một cô kèm hai con.

There are always many teachers in the room. The most demanding class has three to six children with three to five teachers. Steadier classes run at one teacher to 1.5 or 1.75 children. Classes where children have more language and fewer behaviours run at one teacher to two children.

Nhờ vậy con không có khoảng thời gian trống nào trong ngày, và mỗi ngày con vẫn có ít nhất hai giờ học riêng theo chương trình của mình.

This way no part of your child's day is idle, and every day still holds at least two hours of individual work on their own programme.

Vì sao học cả ngày
Why a full day

Cường độ can thiệp quyết định con đi được đến đâu

Intensity decides how far a child gets

Trong tài liệu chuyên môn, cường độ can thiệp thường được chia ba mức: thấp 6–9 giờ một tuần, trung bình 16–19 giờ, cao 25–44 giờ.

Professional literature usually groups intervention intensity into three bands: low at 6–9 hours a week, moderate at 16–19, and high at 25–44.

Mô hình bán trú của AN cho con 30 giờ can thiệp mỗi tuần, nằm trong nhóm cao. Đó là lý do chúng tôi làm cả ngày thay vì vài buổi lẻ.

AN's full-day model gives a child thirty hours of intervention a week, within the high band. That is why we work all day rather than in occasional sessions.

18 tháng đầu là quan trọng nhất, vì đó là lúc con học ngôn ngữ và nhận thức nhanh nhất. Tăng giờ can thiệp sau một hai năm không bù lại được tốc độ học của giai đoạn này.

The first eighteen months matter most, because that is when language and cognition develop fastest. Adding hours a year or two later does not make up for the pace of that window.

Vận động và giác quan là gốc. Vận động ảnh hưởng tới mọi mặt phát triển khác, nên ngày nào của con cũng bắt đầu bằng vận động trị liệu và ổn định giác quan.

Movement and the senses come first. Movement affects every other area of development, so each of your child's days begins with movement therapy and sensory regulation.

Dịch vụ 4
Service 4

Nhóm giao tiếp xã hội

Social communication group

Nhóm dành cho con tập ở cùng bạn: chơi, bàn bạc, và xử lý những lúc không vừa ý.

A group where children practise being with other children: playing, discussing, and handling moments that do not go their way.

  • Con tập giao tiếp xã hội, làm việc nhóm, thảo luận nhóm, chơi trò chơi và hiểu luật.
  • Children practise social communication, working and talking in a group, playing games and following rules.
  • Con tập giải quyết xung đột, và tập dùng lời để nói ra những cảm xúc khó chịu thay vì bùng lên.
  • Children practise resolving conflict, and using words for difficult feelings instead of erupting.
Nhóm này cũng ứng dụng Floortime, nhưng ở mức cao hơn: thay vì một cô một trò, con phải đọc được ý bạn, chờ bạn, và thương lượng với bạn. This group also draws on Floortime, but at a higher level: instead of one adult and one child, your child has to read another child, wait for them, and negotiate.
Dịch vụ 5
Service 5

Can thiệp cá nhân

One-to-one intervention

Con học riêng với một chuyên viên, theo đúng chương trình sáu tháng của con.

Your child works with one specialist, following their own six-month programme.

  • Chuyên viên can thiệp đánh giá và xây dựng chương trình sáu tháng, gồm các lĩnh vực can thiệp ưu tiên với hệ thống mục tiêu con sẽ được can thiệp.
  • The specialist assesses your child and builds the six-month programme, covering the priority areas with a set of goals to work towards.
  • Con học một cô một trò cùng chuyên viên, dựa trên chương trình sáu tháng của mình.
  • Your child works one to one with the specialist, following that programme.
  • Chúng tôi tập trung vào khó khăn cốt lõi của từng con, không dạy dàn trải.
  • We work on each child’s core difficulty, rather than spreading thin.
Mọi trẻ ở AN đều học theo Floortime, một phần hoặc toàn phần tuỳ đặc điểm của con. Floortime là cách chơi cùng trẻ bằng việc đi theo hứng thú của chính trẻ, xây mối quan hệ trước rồi kỹ năng theo sau. Đây là phương pháp được dùng rộng rãi trên thế giới và có nhiều nghiên cứu đi kèm. Every child at AN learns through Floortime, in part or in full depending on their needs. Floortime means playing with a child by following the child’s own interests, building the relationship first and letting skills follow. It is widely used internationally and well researched.
Ba tuần đầu
The first three weeks

Từ lúc con vào đến khi có chương trình sáu tháng

From your child's first day to their six-month plan

1
Đánh giá để lên chương trình
Assessment for the plan
Trong 15 ngày đầu, con được đánh giá để dựng chương trình sáu tháng.
In the first fifteen days, your child is assessed so the six-month programme can be built.
2
Nhận xét tuần ngay từ tuần đầu
Weekly notes from week one
Anh chị nhận nhận xét về tiến độ học của con theo tuần, không phải chờ đến cuối chương trình.
You receive notes on your child's progress every week, not at the end of the programme.
3
Hội đồng chuyên môn họp
The professional panel meets
Bốn đến năm chuyên viên cùng ngồi lại xây kế hoạch sáu tháng cho con.
Four to five professionals sit down together to build your child's six-month plan.
4
Họp riêng với phụ huynh
A meeting just for you
Một buổi họp 1–1 kéo dài 60 đến 90 phút, đi qua từng mục tiêu. Mục tiêu sáu tháng được chia nhỏ ra từng tháng.
A one-to-one meeting of sixty to ninety minutes, going through every goal. The six-month goals are broken down month by month.
Chương trình
Programme

Một ngày của con ở AN

A day at AN

Con học bán trú từ 7:45 đến 16:00, thứ Hai đến thứ Sáu. Trong ngày con có sáu buổi học một cô một trò, hai buổi trị liệu nhóm, và ba bữa ăn. Mọi hoạt động, kể cả bữa ăn và lúc cởi giày, đều lấy mục tiêu từ chương trình sáu tháng của riêng con.

Children attend from 7:45 to 16:00, Monday to Friday. The day holds six one-to-one sessions, two group sessions, and three meals. Every activity, including meals and taking off shoes, works towards goals from the child's own six-month programme.

Buổi sáng
Morning
7:45 – 8:00
Đón trẻ
Arrival
Chào hỏi, cùng cô dựng lịch trình cho cả ngày. Con tự tháo giày cất vào giá, cởi áo khoác, mang đồ về tủ của mình.
Greetings, and building the day's schedule with the teacher. The child takes off their shoes and puts them away, removes their coat, and carries their things to their own locker.
8:00 – 8:30
Cá nhân
One-to-one
Vận động trị liệu, ổn định giác quan.
Movement therapy and sensory regulation.
8:30 – 9:00
Cá nhân
One-to-one
Con học một cô một trò, theo đúng chương trình sáu tháng của con.
One teacher, one child, following the child's own six-month programme.
9:00 – 9:30
Trị liệu nhóm
Group therapy
Kéo dài thời gian tập trung chú ý, bắt chước, lắng nghe, chờ đến lượt, hiểu và làm theo luật chơi. Các kỹ năng này lấy từ chương trình sáu tháng của con.
Extending attention span, imitation, listening, turn-taking, and following the rules of a game. These skills come from the child's six-month programme.
9:30 – 10:00
Ăn nhẹ
Snack
Giờ ăn cũng là giờ trị liệu: tập ăn, tập nhai, làm quen món mới, dọn dẹp, vệ sinh cá nhân. Kèm theo là giao tiếp: yêu cầu, từ chối, bình luận, gọi tên.
Eating is therapy too: learning to eat and chew, trying new foods, clearing up, personal hygiene. Alongside it, communication: requesting, refusing, commenting, naming.
10:00 – 11:00
Cá nhân
One-to-one
Hai buổi học một cô một trò, theo chương trình sáu tháng của con.
Two one-to-one sessions, following the child's six-month programme.
11:00 – 11:40
Ăn trưa
Lunch
Tiếp tục các mục tiêu về tự phục vụ và giao tiếp trong bữa ăn.
The self-care and communication goals continue through the meal.
11:40 – 13:40
Ngủ trưa
Nap
Buổi chiều
Afternoon
13:45 – 14:00
Vận động theo nhạc
Movement to music
Khởi động buổi chiều.
Warming up for the afternoon.
14:00 – 14:30
Trị liệu nhóm
Group therapy
Tập trung chú ý, bắt chước, lắng nghe, chờ đến lượt, làm theo luật chơi.
Attention, imitation, listening, turn-taking, following the rules of a game.
14:30 – 15:00
Ăn chiều
Afternoon snack
Tự phục vụ và giao tiếp, như các bữa trước.
Self-care and communication, as at the earlier meals.
15:00 – 16:00
Cá nhân
One-to-one
Hai buổi học một cô một trò cuối ngày.
The last two one-to-one sessions of the day.
16:00 – 16:15
Trả trẻ
Going home
Cô trao đổi với phụ huynh tình hình học của con trong ngày.
The teacher tells you how your child's day went.
Khu chờ và góc chơi của Trung tâm AN

Giờ trả trẻ muộn nhất là 16:30. Nếu đón con muộn hơn, anh chị đăng ký giờ trông muộn hoặc giờ cá nhân bổ sung cho con.

The latest pick-up is 16:30. If you need longer, you can book late care or an additional one-to-one session.

Làm được ngay
What you can do now

Bốn việc anh chị làm được tối nay

Four things you can do tonight

Trong lúc chờ đến buổi hẹn, bốn việc này không cần chuyên môn, và giúp buổi đánh giá của con chính xác hơn.

While you wait for your appointment, these four need no training, and they make your child’s assessment more accurate.

01
Điền bảng sàng lọc M-CHAT-R
Fill in the M-CHAT-R screening checklist
Dành cho trẻ 16–30 tháng. Anh chị chỉ làm phần bảng hỏi 20 câu, mỗi câu trả lời Có hoặc Không, hết khoảng năm phút. Những trang phía sau ghi Đạt / Không đạt là phần phỏng vấn dành cho nhà chuyên môn, anh chị bỏ qua. In ra, điền, rồi mang theo buổi đánh giá.
Tải bản tiếng Việt (PDF) →
For children aged 16–30 months. Complete only the 20-question checklist, answering Yes or No to each, about five minutes. The later pages marked Pass / Fail are the follow-up interview for professionals — skip those. Print it, fill it in, and bring it to the assessment.
Download the Vietnamese edition (PDF) →
Robins, Fein & Barton · bản tiếng Việt: CCIHP dịch, Ths. Nguyễn Thị Nha Trang biên tập, tháng 6 năm 2015
Robins, Fein & Barton · Vietnamese edition: translated by CCIHP, edited by Nha Trang Nguyen, M.S., June 2015
02
Ghi lại con nói được những từ nào
Write down every word your child says
Một tờ giấy dán trên tủ lạnh. Mỗi từ con nói được thì ghi từ đó kèm ngày. Cả những từ nói chưa tròn cũng ghi.

Sau hai tuần anh chị có một danh sách thật để đưa chuyên gia xem, thay vì phải cố nhớ trong buổi đánh giá.
A sheet of paper on the fridge. Each time your child says a word, write it down with the date — including words that come out only half formed.

After two weeks you have a real list to show the specialist, instead of trying to remember on the day.
03
Mười lăm phút chơi vui vẻ cùng con mỗi ngày
Fifteen minutes of happy play every day
Ngồi xuống sàn, ngang tầm mắt con. Theo trò con đang chơi, đừng đổi sang trò mình muốn dạy. Con xin đồ gì thì chờ con nhìn vào mắt mình rồi mới đưa.

Mười lăm phút mỗi ngày, đều đặn, có sức nặng hơn một buổi dài cuối tuần.
Sit on the floor, at your child’s eye level. Follow the game they are already playing; do not switch to the one you want to teach. When they ask for something, wait for them to look at you before you hand it over.

Fifteen minutes every day carries more weight than one long session at the weekend.
04
Viết sẵn câu hỏi mang đi khám
Write your questions down before you come
Trong buổi đánh giá có nhiều thứ để nghe, và anh chị dễ quên điều mình định hỏi. Ghi ra ba điều anh chị lo nhất về con, mang theo.
There is a lot to take in during an assessment, and it is easy to forget what you meant to ask. Write down the three things that worry you most, and bring the list.
Bài viết
Articles

Bài viết cho cha mẹ

Articles for parents

Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 1/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 1/9
Não bộ khác biệt: vì sao hành vi của con lại như vậy
Giác quan, chức năng điều hành và ngôn ngữ — ba lý do đứng sau hành vi khó hiểu.
Senses, executive function and language — the three reasons behind puzzling behaviour.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 2/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 2/9
Đừng cố dạy khi con chưa sẵn sàng
Vùng ổn định của con, và cách đọc tín hiệu để biết khi nào nên dạy, khi nào nên dừng.
Your child's window of tolerance, and how to read the signals.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 3/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 3/9
Hành vi là cách con giao tiếp với chúng ta
Đằng sau mỗi hành vi là một thông điệp. Cách đọc thông điệp đó.
Behind every behaviour is a message. How to read it.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 4/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 4/9
Khi nào thì ôm, khi nào thì nghiêm?
Phân biệt cơn quá tải và cơn ăn vạ, và ứng xử khác nhau với hai thứ đó.
Telling a meltdown from a tantrum, and responding differently to each.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 5/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 5/9
Cha mẹ ổn định, con mới ổn định
Đồng điều chỉnh, tác nhân gây căng thẳng của chính mình, và kỹ thuật ba mươi giây.
Co-regulation, your own stress triggers, and a thirty-second technique.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 6/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 6/9
Đồng điều chỉnh: cùng con vượt qua cơn bão cảm xúc
Làm gì trong lúc con đang trong cơn, và làm gì sau khi cơn qua.
What to do during a meltdown, and what to do once it passes.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 7/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 7/9
Khoa học về dạy con tự điều chỉnh cảm xúc
Vì sao tự điều chỉnh phải học sau đồng điều chỉnh, không phải trước.
Why self-regulation is learned after co-regulation, not before.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 8/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 8/9
Công cụ và thực hành dạy con tự điều chỉnh
Ba bước và những công cụ cụ thể, tập lúc con vui chứ không phải lúc con khó.
Three steps and concrete tools, practised when your child is calm.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 9/9Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · part 9/9
Mình cũng cần được chăm sóc
Chăm sóc bản thân cho cha mẹ, viết cho hoàn cảnh thật của gia đình Việt.
Self-care for parents, written for the real circumstances of Vietnamese families.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 1/5Chuỗi bài về chỉ tay · part 1/5
Tại sao chương trình của con lại có “dạy chỉ tay”?
Ba mục đích của việc chỉ tay, và cái nào khó hơn với trẻ tự kỷ.
The three purposes of pointing, and which is harder for autistic children.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 2/5Chuỗi bài về chỉ tay · part 2/5
Chỉ tay có phải cách duy nhất để con yêu cầu và chia sẻ?
Kéo tay, nhìn luân phiên, mang đồ đến khoe — những cách khác cũng có giá trị.
Leading by the hand, alternating gaze, bringing things to show — these count too.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 3/5Chuỗi bài về chỉ tay · part 3/5
Con đã sẵn sàng học chỉ tay chưa?
Hai câu hỏi để tự đánh giá, và những đặc điểm riêng ảnh hưởng đến việc học.
Two questions to check readiness, and what can affect learning to point.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 4/5Chuỗi bài về chỉ tay · part 4/5
Chỉ tay: một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh giao tiếp lớn
Đổi câu hỏi từ “con có biết chỉ tay không” sang “con có giao tiếp được không”.
Changing the question from can my child point to can my child communicate.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 5/5Chuỗi bài về chỉ tay · part 5/5
Bản đồ phát triển giao tiếp: con mình đang ở đâu?
Năm cấp độ giao tiếp, và ở cấp nào thì dạy chỉ tay là đúng lúc.
Five levels of communication, and when teaching pointing is well timed.
Cường độ can thiệp: bao nhiêu giờ một tuần là đủ?
Tổng hợp nghiên cứu về số giờ can thiệp theo mức độ khó khăn của trẻ.
A summary of the research on intervention hours by level of need.
Tám hệ giác quan của con
Thị giác, khứu giác, tiền đình, vùng miệng, thính giác, bản thể, xúc giác và hệ nội cảm.
Vision, smell, vestibular, oral, hearing, proprioception, touch and interoception.
Floortime và Aner nhí
Một buổi chơi với bình xịt nước ở nhà An, và câu hỏi cô giáo đặt ra sau đó.
A session with a water sprayer at AN, and the question the teacher asked afterwards.
Tại sao trẻ tự kỷ đi can thiệp mà không có sự tiến bộ?
Bốn yếu tố quyết định kết quả can thiệp, kèm nghiên cứu về cường độ giờ can thiệp trong 18 tháng đầu.
The four factors that decide the outcome, with research on intervention intensity in the first eighteen months.
Thực phẩm và rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷ
Ba cơ chế thực phẩm tác động đến giác quan, và những điều cần hỏi bác sĩ trước khi đổi chế độ ăn của con.
Three ways food affects sensory processing, and what to ask a doctor before changing your child's diet.
Hiểu về chứng tự học đọc ở trẻ
Con đọc chữ rất sớm. Khi nào là năng khiếu, khi nào là dấu hiệu cần lưu ý.
Your child reads very early. When it is a gift, and when it is a sign to look into.
Con bỗng bỏ chơi giữa chừng: hiểu về “quá tải”
Con đang chơi vui thì chạy ra ngoài xoay tròn. Vì sao, và làm gì để con quay lại trò chơi.
Your child is playing happily, then runs off and spins. Why it happens, and how to bring them back.
Ngừng nói “Bình tĩnh lại”
Những câu nên nói thay, khi con đang căng thẳng, buồn bã hay tức giận.
What to say instead when your child is tense, upset, or angry.
5 cách giúp trẻ tự kỷ ngủ ngon
Làm được ngay ở nhà, bắt đầu từ giờ đi ngủ cố định.
Things you can do at home, starting with a fixed bedtime.
Dạy trẻ 2–3 tuổi kiểm soát cảm xúc và giao tiếp
Kỹ năng xã hội và cảm xúc là gì, và dạy con thế nào ở tuổi lên hai lên ba.
What social-emotional skills are, and how to teach them at two and three.
Chứng nhại lời ở trẻ tự kỷ
Con lặp lại nguyên câu của người khác. Đó là dấu hiệu gì, và hỗ trợ con thế nào.
Your child repeats whole phrases they hear. What it signals, and how to support them.
Việc dùng thuốc cho trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện
Ghi chép từ chương 15 cuốn Profound Autism, về thuốc và những hỗ trợ đi kèm.
Notes from chapter 15 of Profound Autism, on medication and the support around it.
Hỏi đáp
FAQ

Những câu cha mẹ hay hỏi trước khi đến

What parents ask before coming

Trước khi đến
Before you come
Khi nào thì tôi nên cho con đi khám?
When should I have my child assessed?
Mỗi đứa trẻ lớn lên theo nhịp riêng, nên không có một mốc cứng cho mọi con. Nhưng nếu con có vài dấu hiệu ở đúng mốc tuổi của con — chưa bi bô ở 12 tháng, chưa nói từ nào có nghĩa ở 18 tháng, chưa ghép hai từ ở 24 tháng — thì anh chị nên cho con đi đánh giá. Đặc biệt, nếu con từng nói được vài từ, từng nhìn vào mắt, từng chơi cùng người khác rồi mất đi, anh chị nên cho con đi khám sớm.
Every child grows at their own pace, so there is no single cut-off. But if your child shows several of the signs for their age — not babbling at 12 months, no meaningful words at 18 months, not putting two words together at 24 months — it is worth having them assessed. And if your child once said a few words, once made eye contact, once played with others, and has lost that, come sooner.
Con chưa có chẩn đoán thì đến được không?
My child has no diagnosis yet. Can we still come?
Được. Buổi đánh giá chính là để biết con đang ở đâu so với các mốc phát triển. Anh chị không cần có giấy tờ gì trước.
Yes. The assessment is how we find out where your child stands against developmental milestones. You do not need any paperwork beforehand.
Trung tâm nhận trẻ mấy tuổi?
What ages do you take?
Trẻ từ 12 đến 72 tháng, với bốn nhóm khó khăn: chậm phát triển ngôn ngữ, rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp, tăng động giảm chú ý, và tự kỷ.
Children from 12 to 72 months, in four groups: language delay, language and communication disorders, ADHD, and autism.
Chi phí đánh giá thế nào?
What does an assessment cost?
Có hai hình thức: đánh giá và tư vấn về phát triển, định hướng can thiệp 2.000.000đ; đánh giá kèm xây dựng chương trình can thiệp sáu tháng 5.000.000đ. Bảng so sánh hai hình thức nằm ở trang Dịch vụ và chương trình. Chưa biết con mình hợp hình thức nào thì anh chị nhắn cho An để được tư vấn.
Two options: assessment with guidance on development and a direction for intervention at 2,000,000 VND; assessment with a six-month intervention programme at 5,000,000 VND. A comparison of the two is on the Services and programme page. If you are not sure which suits your child, write to us and we will advise.
Đặt lịch thế nào?
How do I book?
Anh chị nhắn cho An qua Zalo 076 200 8836 hoặc Facebook để được tư vấn thêm và hỗ trợ đặt lịch hẹn khám cho con.
Write to us on Zalo at 076 200 8836 or on Facebook, and we will advise you and arrange an appointment.
Dịch vụ và chương trình của con
Services and your child’s programme
Trung tâm AN có những dịch vụ nào?
What services does AN Center offer?
Năm dịch vụ, và không phần nào đứng một mình: đánh giá phát triển · huấn luyện cha mẹ · can thiệp nhóm học toàn thời gian · nhóm giao tiếp xã hội · can thiệp cá nhân. Con được đánh giá rồi mới học, học riêng rồi mới học cùng bạn, và suốt chặng ấy cha mẹ đi cùng. Sau buổi đánh giá, chuyên gia tư vấn dịch vụ nào phù hợp với con.
Five services, none of which stands alone: developmental assessment · parent coaching · full-day group intervention · the social communication group · one-to-one intervention. Your child is assessed before they learn, works one to one before working with peers, and you walk the whole way with them. After the assessment our specialist advises which services suit your child.
Một ngày của con ở AN diễn ra thế nào?
What does a day at AN look like?
Con học bán trú từ 7:45 đến 16:00, thứ Hai đến thứ Sáu. Trong ngày con có sáu buổi học một cô một trò, hai buổi trị liệu nhóm, và ba bữa ăn. Mọi hoạt động, kể cả bữa ăn và lúc cởi giày, đều lấy mục tiêu từ chương trình sáu tháng của riêng con.
Children attend from 7:45 to 16:00, Monday to Friday. The day holds six one-to-one sessions, two group sessions and three meals. Every activity, including meals and taking off shoes, works towards goals from the child’s own six-month programme.
Con vào học rồi thì ba tuần đầu diễn ra gì?
What happens in the first three weeks?
Trong 15 ngày đầu, con được đánh giá để dựng chương trình sáu tháng. Anh chị nhận nhận xét về tiến độ học của con theo tuần, ngay từ tuần đầu. Bốn đến năm chuyên viên cùng ngồi lại xây kế hoạch cho con. Sau đó là một buổi họp riêng với anh chị, kéo dài 60 đến 90 phút, đi qua từng mục tiêu.
In the first fifteen days your child is assessed so the six-month programme can be built. You receive weekly notes on their progress from the very first week. Four or five professionals sit down together to plan for your child. Then comes a one-to-one meeting with you, sixty to ninety minutes, going through every goal.
Con đang học mầm non thì sắp xếp thế nào?
My child is at preschool. How does that work?
Được. Con vẫn đi học mầm non, và đến AN theo buổi cho phần can thiệp cá nhân hoặc nhóm giao tiếp xã hội. Sau buổi đánh giá, chúng tôi tư vấn số buổi một tuần phù hợp với con.
Yes. Your child keeps going to preschool and comes to AN per session, for one-to-one work or the social communication group. After the assessment we advise how many sessions a week suit your child.
Lớp có đông quá không, con có được kèm riêng không?
Are classes crowded? Will my child get individual attention?
Lớp khó nhất có 3 đến 6 con với 3 đến 5 cô. Các lớp khác giữ tỷ lệ một cô kèm 1,5 đến 2 con. Mỗi ngày con vẫn có ít nhất hai giờ học riêng theo chương trình của mình.
The most demanding class has three to six children with three to five teachers. Other classes run at one teacher to 1.5 or 2 children. Every day your child still has at least two hours of individual work on their own programme.
Cách làm và con người ở AN
How we work, and who we are
Phương pháp can thiệp của AN gồm những gì?
What is AN’s approach to intervention?
Chúng tôi làm theo hướng phát triển: đi theo hứng thú của con, xây mối quan hệ trước, kỹ năng theo sau. Ngày nào cũng bắt đầu bằng vận động trị liệu và ổn định giác quan, vì vận động và giác quan là gốc của các mặt phát triển khác. Chương trình của mỗi con do bốn đến năm chuyên viên cùng xây, và tập trung vào khó khăn cốt lõi của con chứ không dạy dàn trải.
We work developmentally: follow the child’s lead, build the relationship first, and let skills follow. Each day starts with movement therapy and sensory regulation, because movement and the senses underpin everything else. Each child’s programme is built by four or five professionals and works on their core difficulty rather than spreading thin.
Đội ngũ của AN được đào tạo thế nào?
How is the AN team trained?
Tất cả giáo viên và chuyên viên ở AN tốt nghiệp từ bậc cử nhân trở lên, các ngành giáo dục mầm non, giáo dục đặc biệt, công tác xã hội, tâm lý giáo dục hoặc tham vấn tâm lý. Vào AN rồi, hành trình mới bắt đầu — các cô đi qua một lộ trình phát triển chuyên môn trong nghề.
Every teacher and specialist at AN holds at least a bachelor’s degree, in early childhood education, special education, social work, educational psychology or counselling. Joining AN is where the journey starts, not ends — each of them follows a professional development path.
Cha mẹ có bắt buộc phải học cùng không?
Do parents have to take part?
Có. Gia đình tham gia sáu việc, từ buổi đánh giá đến theo dõi kết quả tại nhà hằng tuần. Đây là điều làm nên kết quả, nên chúng tôi không làm khác đi được.
Yes. Families take part in six things, from the assessment through to weekly tracking at home. This is what produces the result, so it is not optional.
Bao lâu thì biết con có tiến bộ không?
How soon will I know if my child is progressing?
Anh chị nhận nhận xét về tiến độ của con theo tuần, ngay từ tuần đầu, qua email và nhóm Zalo. Mục tiêu sáu tháng cũng được chia nhỏ ra từng tháng để anh chị theo được.
You receive weekly notes on your child's progress from the very first week, by email and in the Zalo group. The six-month goals are also broken down month by month so you can follow them.
Trong lúc chờ đến buổi hẹn
While you wait
Ở nhà tôi làm được gì cho con ngay bây giờ?
What can I do for my child at home right now?
Bốn việc không cần chuyên môn: điền bảng sàng lọc M-CHAT-R nếu con trong khoảng 16 đến 30 tháng; ghi lại những từ con nói được, kèm ngày; mỗi ngày dành ít nhất mười lăm phút chơi vui vẻ cùng con; và viết sẵn ba điều anh chị lo nhất để mang đi khám.
Four things that need no training: fill in the M-CHAT-R checklist if your child is between 16 and 30 months; write down every word they say, with the date; spend at least fifteen minutes a day playing happily with them; and write down the three things that worry you most, to bring to the assessment.
Giờ làm việc của trung tâm?
What are your opening hours?
Thứ Hai đến thứ Sáu 8:00–18:00, thứ Bảy 8:00–17:00. Riêng chương trình bán trú của trẻ chạy từ 7:45 đến 16:00, thứ Hai đến thứ Sáu.
Monday to Friday 8:00–18:00, Saturday 8:00–17:00. The children's full-day programme runs 7:45 to 16:00, Monday to Friday.
Liên hệ
Contact

Anh chị hãy nhắn cho An để được chúng tôi gỡ rối những băn khoăn của gia đình về con.

Write to us, and we will help you work through what worries your family about your child.

Đường đi
Getting here
Số 4 BT2 Vinaconex 3, Trung Văn,
phường Đại Mỗ, Hà Nội
Điện thoại & Zalo
Phone & Zalo
076 200 8836
zalo.me/0762008836
Facebook
trungtamanhanoi
Giờ làm việc
Opening hours
Thứ Hai – Thứ Sáu
8:00 – 18:00
Thứ Bảy
8:00 – 17:00
Monday – Friday
8:00 – 18:00
Saturday
8:00 – 17:00
Tất cả bài viếtAll articles

Floortime và Aner nhí

Những pha gây cười chảy nước mắt ở nhà An. Khi cô tạo cơ hội con cũng đón nhận nhưng theo 1 kiểu rất là lạ.

Chị ơi em kể xong nốt chuyện này rồi mình hãy nghỉ trưa nhé. Hôm nay khi em dậy bạn bạn S về giải quyết vấn đề và tạo ý tưởng mới. Trong trò chơi với bình xịt nước khi con cầm chiếc bình xịt lên và xịt xịt vào không khí rồi xịt xịt vào em, em đã cầm 1 tấm vải chắn lên giả vờ che chắn cho em đỡ bị bị ướt.

Lúc này S thích thú lắm, con nhìn thấy tấm vải bị ướt rồi nên đã quên mất việc chơi với em và chuyển sang xịt nước lên tấm vải để làm nó ướt. Vừa xịt nước vừa nói cười khúc khích.

Em thấy cơ hội này là trượt rồi nên đã tạo ra 1 cơ hội khác. Trong lần chơi tiếp theo, em dùng 1 chiếc nắp đậy của thùng đồ chơi, giơ lên, che người em nói: không cho xịt nước vào người cô đâu ướt hết áo rồi. Lúc này em cố tình nói như vậy để xem con sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào.

Điều em mong muốn đó là năng lực giải quyết vấn đề và biểu cảm của con. Em muốn nhìn xem con thực sự có thể đồng cảm với việc 1 người có thể bị ướt áo khi còn chơi trò chơi xịt nước hay không.

Nhưng chị biết không lúc này con phản ứng khiến cho tụi em dở khóc dở cười. Đó là con nhìn thấy nước chảy ở trên nắp thùng thú vị quá nên lại cầm chiếc nắp thùng xịt nước vào đó để ngắm nhìn dòng nước chảy.

(Quả là bất ngờ này đến bất ngờ khác, các con nhà chúng tôi phản ứng lại với các trò chơi, thật sự… theo 100, 1000 kiểu…rất…không thể nào ngờ).

Đây là cảm giác rất dễ gặp đối với những người thực hành về chơi theo phong cách Floortime. Chúng tôi sẽ tạo ra các cơ hội và phán đoán phản ứng của trẻ đồng thời dựa vào phản ứng của chúng mà đưa ra bước hỗ trợ tiếp theo phù hợp hơn.

Tuy là chơi vui vẻ, nhưng lại mang ý nghĩa cho cuộc sống của trẻ, cũng thách thức sự phát triển của con.

Trong tình huống này bé hẳn là đang chơi rất vui và cô giáo chắc cũng có 1 pha cười chảy nước mắt, tuy nhiên nếu như chúng ta nhìn vào bối cảnh của trò chơi này bạn có đánh giá được rằng đứa nhỏ trong tình huống cô giáo kể ở trên có khả năng để giải quyết vấn đề mà cô giáo đưa ra chưa?

Bé đã có khả năng đồng cảm với những cảm xúc của người khác chưa?

Nếu bạn nhỏ có thể nhận ra rằng làm ướt áo người khác khiến người khác khó chịu đấy hoặc là khi người khác phản đối 1 việc nào đó con nên phải phản ứng lại đáp lại như thế nào thì, em bé trong câu chuyện này sẽ thể hiện như thế nào nhỉ?

Cho chúng mình biết suy nghĩ của bạn ở dưới comment nhé.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Tại sao trẻ tự kỷ đi can thiệp mà không có sự tiến bộ?

Dù đã đầu tư nhiều thời gian, công sức và tài chính khi cho con đi can thiệp nhưng chưa phải lúc nào kết quả cũng đạt được như bố mẹ mong đợi. Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng can thiệp của con?

Cùng An tìm hiểu những yếu tố tác động đến quá trình can thiệp dưới góc nhìn khoa học.

Đánh giá chính xác sự phát triển và can thiệp vào khó khăn cốt lõi của trẻ.

Theo nghiên cứu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), đánh giá phát triển toàn diện và sâu sát là bước đầu tiên để thiết lập một chương trình can thiệp hiệu quả. Việc này bao gồm đánh giá các lĩnh vực phát triển của trẻ như ngôn ngữ, tương tác xã hội, vận động, tự phục vụ... Từ đó nhận diện khó khăn cốt lõi của trẻ, xác định những lĩnh vực ưu tiên can thiệp. Nếu việc đánh giá và nhận diện những khó khăn cốt lõi không chính xác thì việc can thiệp sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn. Nghiên cứu của National Autism Center chỉ ra rằng các chương trình nhấn mạnh vào khó khăn cốt lõi thường mang lại hiệu quả lâu dài hơn.

Cường độ và tần suất can thiệp.

Thời gian can thiệp không đủ hoặc không đều đặn có thể ảnh hưởng đến tốc độ tiến bộ của trẻ. Không chỉ vậy, từng mức độ khác nhau cũng sẽ cần cường độ can thiệp khác nhau. Theo Lord & McGee, 2001, “25-30 h/tuần, can thiệp 1-1 trong 1-2 năm đầu là bắt buộc để có được những cải thiện về những khiếm khuyết cốt lõi của tự kỷ”. Một số cha mẹ thích bắt đầu bằng 10-20 h trị liệu/tuần sau đó tăng dần thời lượng sau khi trẻ có được những thành tựu được cho là hướng đi không phù hợp. Một yếu tố cực kỳ quan trọng cần ghim trong đầu là những kỹ năng nhận thức, ngôn ngữ, kỹ năng xã hội chủ chốt được phát triển trong 18 tháng can thiệp đầu tiên. Việc tăng cường thời gian can thiệp sau 1-2 năm không thể bù lại được với tốc độ học và sự phát triển của não bộ trong những giai đoạn trước đó.

Tìm hiểu thêm về “cường độ can thiệp tương ứng với mức độ tự kỷ” qua bài viết dưỡi đây: https://short.com.vn/rUGv

Phương pháp can thiệp phù hợp.

Mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, vì vậy, việc lựa chọn phương pháp can thiệp cần phù hợp với nhu cầu cụ thể. Theo nghiên cứu đến từ Applied Behavior Analysis (ABA), những phương pháp can thiệp có tính cá nhân hóa và linh hoạt sẽ mang lại kết quả tích cực hơn so với phương pháp được áp dụng một cách cứng nhắc.

Sự phối hợp của nhà chuyên môn và gia đình.

Nghiên cứu từ Hiệp hội Tự kỷ Hoa Kỳ (Autism Society of America) khẳng định rằng sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà chuyên môn và gia đình là yếu tố quyết định trong hiệu quả can thiệp. Cha mẹ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để duy trì việc can thiệp tại nhà, đồng thời nhận sự hỗ trợ tích cực từ các chuyên gia.

Trẻ tự kỷ hoặc chậm nói có thể không tiến bộ trong can thiệp do nhiều nguyên nhân, từ việc đánh giá không chính xác, cường độ can thiệp chưa đủ, phương pháp chưa phù hợp, đến sự thiếu phối hợp từ gia đình. Tuy nhiên, việc hiểu đúng và khắc phục những yếu tố này có thể giúp trẻ đạt được những bước tiến ý nghĩa trong quá trình phát triển.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Thực phẩm và rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷ

Cơ chế tác động của thực phẩm đến vấn đề rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷ

Rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷ có thể biểu hiện qua tính quá nhạy cảm hoặc kém nhạy cảm với các kích thích như âm thanh, ánh sáng, xúc giác và mùi vị. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực phẩm có thể ảnh hưởng đến các biểu hiện này thông qua ba cơ chế chính:

Tác động lên hệ thần kinh trung ương: Một số thành phần thực phẩm có khả năng thay đổi chức năng thần kinh, ảnh hưởng đến cách trẻ xử lý thông tin giác quan.

Ảnh hưởng qua trục ruột-não: Sanctuary và cộng sự (2020) đã chứng minh mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và chức năng não bộ. Các rối loạn tiêu hóa và mất cân bằng vi sinh vật có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề giác quan.

Gây phản ứng viêm và miễn dịch: Barnhill và cộng sự (2018) đã phát hiện rằng dị ứng hoặc không dung nạp thực phẩm có thể kích hoạt các phản ứng viêm toàn thân, từ đó ảnh hưởng đến hệ thần kinh và khả năng xử lý giác quan.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng thực phẩm KHÔNG phải là nguyên nhân duy nhất của rối loạn giác quan và mỗi trẻ có thể phản ứng khác nhau với các can thiệp về chế độ ăn.

Các phương pháp dinh dưỡng được khoa học hỗ trợ.

Chế độ ăn không gluten và casein (GFCF)

Whiteley và cộng sự (2018) đã tiến hành nghiên cứu về tác động của việc loại bỏ gluten (có trong lúa mì, lúa mạch, yến mạch) và casein (có trong sữa) đối với trẻ tự kỷ. Kết quả cho thấy việc áp dụng chế độ ăn GFCF có thể cải thiện vấn đề giác quan ở một số trẻ. Bổ sung cho phát hiện này, Lau và cộng sự (2016) cũng tìm thấy mối liên hệ giữa độ nhạy cảm với gluten và các triệu chứng ở trẻ tự kỷ.

Lưu ý quan trọng: Chế độ ăn GFCF cần được thực hiện dưới sự giám sát của chuyên gia dinh dưỡng để đảm bảo trẻ vẫn nhận đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu.

Bổ sung omega-3

Theo phân tích tổng hợp của Mazahery và cộng sự (2017), các axit béo omega-3 đóng vai trò quan trọng trong phát triển não bộ và chức năng thần kinh. Nghiên cứu này đã chứng minh rằng việc bổ sung omega-3 có thể cải thiện đáng kể khả năng xử lý giác quan và tập trung ở trẻ tự kỷ. Nguồn omega-3 tự nhiên bao gồm cá béo, hạt lanh và các loại hạt.

Giảm phụ gia thực phẩm và đường tinh luyện

Cekici và Sanlier (2019) đã tổng hợp các phương pháp dinh dưỡng trong quản lý tự kỷ và phát hiện rằng chất bảo quản, chất tạo màu nhân tạo và đường tinh luyện có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề giác quan. Việc giảm tiêu thụ các thành phần này thường mang lại tác động tích cực đến hành vi và khả năng xử lý cảm giác ở trẻ.

Cân bằng vi khuẩn đường ruột

Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và não bộ đã được chứng minh rõ ràng trong nghiên cứu của Li và cộng sự (2019). Grimaldi và cộng sự (2018) đã tiến hành can thiệp bằng prebiotic ở trẻ tự kỷ và nhận thấy những cải thiện đáng kể. Bổ sung cho điều này, Ristori và cộng sự (2019) đã tổng hợp bằng chứng về tác động tích cực của các can thiệp dinh dưỡng đến hệ vi sinh vật đường ruột và các triệu chứng tự kỷ, bao gồm cả vấn đề giác quan.

Hướng dẫn cho phụ huynh

Trước khi thay đổi chế độ ăn

Tham khảo ý kiến chuyên gia: Sharp và cộng sự (2018) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham vấn bác sĩ nhi khoa, bác sĩ chuyên khoa và chuyên gia dinh dưỡng trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi đáng kể nào trong chế độ ăn của trẻ.

Đánh giá cá nhân hóa: Xét nghiệm dị ứng/không dung nạp thực phẩm và đánh giá tình trạng dinh dưỡng là bước quan trọng để xác định những thực phẩm cụ thể có thể gây vấn đề cho trẻ, như được đề xuất bởi Lau và cộng sự (2016).

Quan sát và ghi chép: Việc lưu ý mối liên hệ giữa thực phẩm cụ thể và hành vi/phản ứng giác quan của trẻ được tất cả các nghiên cứu đề cập ở trên khuyến nghị. Nhật ký thực phẩm là công cụ hữu ích để theo dõi những mối liên hệ này.

Khi thực hiện thay đổi chế độ ăn

Đặc biệt với trẻ tự kỷ có rối loạn giác quan và thói quen ăn chọn lọc, việc thay đổi chế độ ăn cần được tiếp cận cẩn thận:

Thay đổi từng bước nhỏ: Thay đổi một thực phẩm tại một thời điểm để trẻ có thể thích nghi dần dần.

Duy trì các món ăn ưa thích an toàn: Đảm bảo trẻ vẫn có một số món ăn quen thuộc, không gây phản ứng bất lợi.

Sử dụng chiến lược cầu nối: Giới thiệu thực phẩm mới có đặc tính tương tự (màu sắc, kết cấu, hình dạng) với thực phẩm mà trẻ đã quen thuộc.

Tạo môi trường ăn uống thoải mái: Giảm thiểu các kích thích gây xao nhãng và áp lực trong bữa ăn.

Sử dụng hỗ trợ trực quan: Lịch trình bằng hình ảnh, bảng lựa chọn thực phẩm giúp trẻ cảm thấy an tâm hơn với những thay đổi.

Theo dõi những dấu hiệu tích cực và tiêu cực.

Dấu hiệu tích cực:

Cải thiện khả năng tập trung và chú ý

Giảm phản ứng quá mức với kích thích giác quan

Cải thiện giao tiếp và tương tác xã hội

Giảm các vấn đề tiêu hóa

Dấu hiệu tiêu cực cần cảnh giác:

Từ chối ăn kéo dài dẫn đến giảm cân

Gia tăng lo lắng hoặc căng thẳng

Xuất hiện hoặc tăng các hành vi tự kích thích

Rối loạn giấc ngủ

Nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu tiêu cực nghiêm trọng nào, hãy dừng thay đổi và tham khảo ý kiến chuyên gia.

Vai trò của giáo viên và nhà trường

Giáo viên và nhân viên nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ có chế độ ăn đặc biệt:

Duy trì giao tiếp với gia đình: Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về chế độ ăn của trẻ và những phản ứng quan sát được tại trường.

Tạo môi trường hỗ trợ: Có không gian ăn uống phù hợp, giảm thiểu sự kỳ thị hoặc áp lực từ bạn bè.

Hỗ trợ nhất quán: Đảm bảo rằng tất cả nhân viên nhà trường hiểu và tôn trọng nhu cầu ăn uống đặc biệt của trẻ.

Quan sát và báo cáo: Ghi chép lại những thay đổi về hành vi, khả năng tập trung và xử lý giác quan có thể liên quan đến chế độ ăn.

Lưu ý: Chế độ ăn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ có rối loạn giác quan, nhưng không phải là giải pháp toàn diện. Cách tiếp cận tốt nhất là:

Cá nhân hóa dựa trên đánh giá chuyên nghiệp.

Thực hiện thay đổi từ từ và có kế hoạch.

Kết hợp với các phương pháp can thiệp khác.

Kiên nhẫn và nhất quán.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là cải thiện các vấn đề giác quan mà còn tạo ra một mối quan hệ lành mạnh giữa trẻ với thực phẩm và bữa ăn.

Bố mẹ đã từng áp dụng điều chỉnh chế độ ăn cho con và nhận thấy những thay đổi nào? Hãy chia sẻ kinh nghiệm trong phần bình luận cùng An nha! An sẽ viết bài hướng dẫn chi tiết mở rộng chế độ ăn cho trẻ tự kỷ, bố mẹ cùng đón đọc nha ạ

Bài viết này được tổng hợp dựa trên hiểu biết của AN, rất mong nhận được góp ý từ mọi người để nội dung ngày càng hoàn thiện hơn.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Hiểu về chứng tự học đọc ở trẻ

Nếu trẻ mới biết đi hoặc trẻ mẫu giáo có thể tự đọc sách với rất ít hướng dẫn từ người khác thì trẻ có thể là một người tự học đọc. Tự học đọc, còn được gọi là đọc tự phát là khi một đứa trẻ tìm ra cách đọc mà không cần bất kỳ hướng dẫn đọc chính thức nào. Đây có thể là một biểu hiện của năng khiếu nhưng không phải lúc nào cũng vậy.

Tự học đọc và năng khiếu

Khi học đọc, trước tiên một đứa trẻ phải nhận ra rằng các chữ cái đại diện cho âm thanh và các chữ cái cũng đại diện cho các từ. Trẻ tự học đọc sẽ tự tìm ra hệ thống biểu tượng này, đôi khi chỉ thông qua một video hoặc trò chơi về bảng chữ cái hoặc đơn giản là được tiếp xúc với rất nhiều sách

Không phải lúc nào tự học đọc cũng là biểu hiện của năng khiếu, nhưng đó là một dấu hiệu cho thấy đứa trẻ có thể có các kỹ năng ngôn ngữ vượt trội. Học nói là một kỹ năng tự nhiên đối với hầu hết trẻ em, nhưng học đọc thường phải được dạy. Người đọc phải có khả năng nhớ những gì họ đọc ở đầu câu trước khi đến cuối câu, cũng như những gì họ đọc ở đầu đoạn trước khi đến cuối đoạn.

Nếu một đứa trẻ tự học đọc trước khi được hướng dẫn, đọc trôi chảy trước 5 tuổi, điều đó cho thấy bộ não của chúng trưởng thành hơn, rất có thể đứa trẻ đó có năng khiếu.

Tự học đọc và Hyperlexia

Tạm dịch Hyperlexia là một hội chứng đặc trưng khi đứa trẻ cảm thấy say mê vô cùng đối với các chữ cái hoặc con số, có thể thể hiện khả năng đọc vượt trội hơn so với độ tuổi của trẻ ví dụ có những trẻ mới hai tuổi đã có thể bắt đầu đọc chữ.

Đôi khi khả năng đọc vượt trội này là năng khiếu nhưng đó cũng có thể là biểu hiện của chứng hyperlexia. Những đứa trẻ này xuất sắc trong việc nhận ra các chữ cái, từ và âm thanh nhưng có thể không hiểu những gì chúng đang đọc.

Hyperlexia thường được đặc trưng bởi bốn đặc điểm:

  • 1. Có kỹ năng đọc vượt trội
  • 2. Là người tự học đọc
  • 3. Thể hiện sở thích mạnh mẽ đối với chữ cái và sách
  • 4. Mắc rối loạn phát triển thần kinh đi kèm.

Đôi khi hyperlexia có thể là dấu hiệu của rối loạn phổ tự kỷ (ASD); 84% trẻ em mắc chứng hyperlexia cũng thuộc phổ tự kỷ. Nhưng chỉ có 6% đến 14% trẻ em được chẩn đoán tự kỷ mắc chứng hyperlexia.

Bàì viết được An tổng hợp và dịch, link tham khảo:

https://www.verywellfamily.com/self-taught-reader-1449202

https://beekids.buzz/hyperlexia-children-read-before-3/

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Con bỗng bỏ chơi giữa chừng: hiểu về “quá tải”

Bố mẹ đang chơi vui vẻ với con thì bỗng thấy:

Con chạy ra ngoài xoay tròn mấy vòng

Con ngồi hát một mình

Hoặc chỉ ngồi thừ ra, nhìn lơ đễnh...

Những biểu hiện này cho thấy con không còn tập trung vào trò chơi nữa.

________________________________________

Phản ứng thường gặp của bố mẹ

Lo lắng vì con rời xa mình, bố mẹ thường tìm cách thu hút lại:

  • Gọi con: "Con ơi, nhìn này!", "Wow, mẹ có cái này nè!"
  • Hát liên tục các bài hát yêu thích của con
  • Đổi trò chơi khác hấp dẫn hơn: đuổi bắt, ú òa...

Nhưng càng cố gắng gọi, con lại càng chạy xa hơn, thậm chí còn tỏ ra khó chịu.

________________________________________

Điều gì đang xảy ra vậy?

An gọi đó là hiện tượng "mất kết nối". Và một trong những nguyên nhân chính là do con đang bị "quá tải".

"Quá tải” có thể hiểu đơn giản rằng: mỗi bạn nhỏ sẽ có một ngưỡng nhất định để tập trung chú ý liên lục vào hoạt động. Khi vượt quá ngưỡng này, bạn nhỏ cũng cần thời gian để tự điều chỉnh cảm xúc của mình, ổn định cơ thể sau đó mới quay trở lại hoạt động.

________________________________________

Chúng ta có thể làm gì để giữ “kết nối” với trẻ?

Nhận biết ngưỡng tập trung chú ý của con:

Quan sát để biết ngưỡng tập trung chú ý của con là bao lâu vì ngưỡng thời gian này thường sẽ thể hiện nhất quán trong hầu hết các hoạt động của con. Khi đã biết ngưỡng tập trung chú ý của con, các bạn có thể thiết kế lịch trình các hoạt động phù hợp cho con. Ví dụ con chỉ có thể tập trung hiệu quả trong vòng 15 phút, vậy mỗi hoạt động của con cũng sẽ không quá thời gian này; con chỉ có thể ngồi chơi ổn định và bình tĩnh bên các bạn khoảng 2-3 phút thì các bạn lúc này cũng sẽ điều chỉnh trò chơi, cách chơi và nhịp chơi của mình sao cho phù hợp với ngưỡng của con.

Quan sát để đọc được các dấu hiệu “quá tải” của con:

Mỗi bạn nhỏ với những đặc điểm khác nhau sẽ có những sự thể hiện khác nhau. Khi dự đoán được những nguyên nhân khiến con “quá tải”, các bạn sẽ có những phản hồi phù hợp. Ví dụ những vấn đề giác quan đang là trở ngại khiến con không thể ổn định, bình tĩnh tham gia vào hoạt động trong thời gian dài, các bạn cũng có thể cung cấp đầu vào giác quan cho con thông qua các bài tập vận động cá nhân; nếu trò chơi chưa đủ hấp dẫn với con vậy các bạn cần nghĩ cách để thay đổi, mở rộng và sáng tạo trò chơi hơn nữa...

Quan sát để dự đoán các nguyên nhân khiến con “quá tải”.

Nguyên nhân có thể là do tác động từ môi trường bên ngoài như tiếng ồn, do các vấn đề giác quan của con, do con không có ý tưởng gì với trò chơi, hoặc cũng có thể do trò chơi chưa đủ hấp dẫn ... Khi dự đoán được những nguyên nhân khiến con “quá tải”, các bạn sẽ có những phản hồi phù hợp. Ví dụ những vấn đề giác quan đang là trở ngại khiến con không thể ổn định, bình tĩnh tham gia vào hoạt động trong thời gian dài, các bạn cũng có thể cung cấp đầu vào giác quan cho con thông qua các bài tập vận động cá nhân; nếu trò chơi chưa đủ hấp dẫn với con vậy các bạn cần nghĩ cách để thay đổi, mở rộng và sáng tạo trò chơi hơn nữa...

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Ngừng nói “Bình tĩnh lại”

Khi con đang căng thẳng, buồn bã hay tức giận, câu "Bình tĩnh lại!" đôi khi lại khiến con cảm thấy cô đơn hơn.

Thay vào đó, chúng ta có thể dùng những lời nói kết nối và chữa lành hơn.

Dưới đây là những gợi ý dễ áp dụng. Ba mẹ hãy điều chỉnh phù hợp hoàn cảnh thực tế để mỗi khi bên con, con sẽ cảm thấy được thấu hiểu, được hỗ trợ và học được cách tự điều chỉnh cảm xúc của mình nhé.

Thay vì nói “Bình tĩnh lại!”, hãy nhẹ nhàng nói:

"Ba/mẹ đang ở đây với con."

Điều này giúp truyền đạt sự an toàn và hiện diện, tạo cơ hội cho cả ba mẹ và con cùng điều chỉnh cảm xúc.

Ví dụ: Khi con vẫn còn quá phấn khích sau giờ chơi, ba/mẹ có thể ngồi xuống bên cạnh và thì thầm với con bằng giọng dịu dàng.

Thay vì nói “Không sao đâu.”, hãy công nhận cảm xúc của con bằng cách nói:

"Ba/mẹ hiểu điều này khó khăn với con."

Cách này giúp con cảm nhận rằng cảm xúc của mình được công nhận, thay vì bị phủ nhận.

Ví dụ: Khi con buồn bã và bật khóc sau khi thua một trò chơi, ba/mẹ hãy thể hiện sự đồng cảm thay vì bỏ qua.

Thay vì nói “Nín đi.”, hãy cho phép con biểu đạt cảm xúc bằng câu:

"Con có thể khóc. Ba/mẹ sẽ giúp con vượt qua điều này."

Điều này cho thấy sự hiện diện bên cạnh để hỗ trợ con đồng thời cho phép con cảm nhận, thể hiện cảm xúc.

Ví dụ: Khi con quá sợ hãi, lo lắng hay buồn bã vì mắc lỗi, hãy ở bên con để cảm nhận và hồi phục trong sự an toàn.

Thay vì nói “Thư giãn đi.”, hãy dạy con kỹ năng điều chỉnh cảm xúc bằng cách gợi ý:

"Mình cùng thử bài tập thở nhé."

Cách này cung cấp cho con một công cụ thực tế để tự điều chỉnh.

Ví dụ: Ba mẹ có thể hướng dẫn con "ngửi bông hoa, thổi tắt ngọn nến" – một hình ảnh sinh động giúp trẻ tập thở sâu dễ dàng.

Thay vì nói “Không có gì phải buồn cả.”, hãy khuyến khích con mở lòng chia sẻ bằng câu:

"Cảm xúc của con rất quan trọng. Con có muốn kể thêm cho ba/mẹ nghe không?"

Điều này khuyến khích con giao tiếp, học cách diễn đạt cảm xúc bằng lời.

Ví dụ: Trong các hoạt động nhóm, nếu con buồn vì bất đồng với bạn, hãy công nhận cảm xúc đó thay vì gạt đi.

Thay vì nói “Đừng tức giận.”, hãy bình thường hóa cảm xúc và khuyến khích con tìm cách giải quyết bằng câu:

"Không sao khi cảm thấy tức giận. Mình cùng nghĩ xem làm gì để cảm thấy dễ chịu hơn nhé."

Điều này giúp trẻ hiểu rằng tức giận là cảm xúc tự nhiên và có cách để xử lý nó.

Ví dụ: Trong những lúc chuyển hoạt động, nếu con bực bội, ba mẹ có thể hỗ trợ con nhận biết và kiểm soát cảm xúc của mình, cung cấp công cụ để đối phó với cơn tức giận ví dụ hít thở, đếm….

Thay vì nói “Thế là đủ rồi!”, hãy hướng dẫn con xây dựng khả năng cảm nhận bên trong bằng cách nói:

"Hãy nghỉ ngơi một chút và xem cơ thể mình đang cảm thấy thế nào."

Điều này giúp trẻ phát triển khả năng tự nhận thức và điều chỉnh chính mình.

Ví dụ: Khi con trở nên ồn ào trong giờ học tại nhà, ba/mẹ có thể nhẹ nhàng hướng con đến một góc yên tĩnh để nghỉ ngơi.

Thay vì nói “Con đang phản ứng thái quá đấy.”, hãy thể hiện sự hỗ trợ bằng câu:

"Có vẻ như điều này đang rất căng thẳng với con. Mình cùng nhau vượt qua nhé."

Điều này giúp trẻ cảm thấy được lắng nghe thay vì bị đánh giá.

Ví dụ: Sau một bài kiểm tra căng thẳng, nếu con hoảng sợ hoặc lo âu, hãy ghi nhận cảm xúc đó trước khi giúp con ổn định lại.

Ghi nhớ:

Khi con căng thẳng hay mất kiểm soát, điều con cần trước tiên không phải là lời khuyên hay mệnh lệnh, mà là sự kết nối cảm xúc từ ba mẹ. Bằng cách thay đổi những câu nói nhỏ hằng ngày, chúng ta đang gieo trồng cho con khả năng tự điều chỉnh cảm xúc – một món quà theo con suốt cả cuộc đời.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

5 cách giúp trẻ tự kỷ ngủ ngon

Xây dựng thời gian biểu hợp lý: Tạo thói quen để trẻ đi ngủ, thức dậy vào những khung giờ cố định.

Đồng hồ sinh học của trẻ giúp trẻ ngủ và cảm thấy tỉnh táo vào những thời điểm cụ thể trong ngày. Nếu bố mẹ cho phép con ngủ nướng vào cuối tuần, điều đó sẽ khiến trẻ khó thức dậy hơn vào giờ thường lệ trong tuần. Tương tự như vậy, nếu bố mẹ cho phép con thức khuya vào ban đêm cuối tuần, bé sẽ khó ngủ hơn vào giờ đi ngủ các ngày trong tuần.

Nếu con quá khó khăn để đi ngủ, bố mẹ cũng có thể giảm thời gian ngủ trưa của con, cho con thức dậy sớm hơn vào buổi sáng. Hãy lưu ý về việc đôi khi con thức muộn vào đêm hôm trước, bố mẹ thường để con ngủ bù vào ngày hôm sau. Điều đó sẽ gây trở ngại hơn cho con trong việc thích ứng với lịch trình giấc ngủ. Vì vậy, bố mẹ có thể cho con thức dậy muộn khoảng 30 phút nhưng cần tránh việc để con “ngủ nướng” thoải mái.

Hãy xây dựng cho con thời gian biểu hợp lý và duy trì một cách nhất quán.

Điều chỉnh chế độ vận động: Các hoạt động vận động giúp con giải phóng năng lượng. Vận động đủ vào ban ngày có thể hỗ trợ cải thiện giấc ngủ của con vào ban đêm. Tuy nhiên việc vận động cũng khiến con tỉnh táo và hưng phấn hơn, vì vậy bố mẹ cần kết thúc vận động cũng như những hoạt động chơi đùa vui vẻ, phấn khích ít nhất 2 giờ trước khi đi ngủ.

Điều chỉnh chế độ ăn: Hạn chế thức uống có gas, caffein, các chất kích thích khác và đặc biệt là đồ ngọt vào buổi tối.

Điều chỉnh hoạt động trước giờ ngủ:

Đừng thực hiện bất cứ một hoạt động tiêu tốn nhiều năng lượng gần giờ ngủ của con như nô đùa, xem một bộ phim kích thích hoặc đọc một cuốn sách kích thích....

Thêm vào các hoạt động thư giãn trước giờ ngủ: Bố mẹ có thể cho con ngâm nước ấm 15-20 phút, kết hợp sử dụng tinh dầu, nghe nhạc nhẹ nhàng, massage, đọc truyện trước khi đi ngủ.

Thiết kế phòng ngủ thoải mái:

Bố mẹ sử dụng đèn ánh sáng vàng, giảm ánh sáng trong phòng trước giờ ngủ khoảng 1-2 giờ để con giảm bớt những kích thích về thị giác,

Điều chỉnh nhiệt độ phòng phù hợp với con.

Nếu con đặc biệt yêu thích chiếc chăn hoặc gối ôm, những đồ giúp con thư giãn và dễ đi vào giấc ngủ, hãy luôn để chúng sẵn sàng trong phòng của con. Phòng ngủ phải là nơi êm ái và thoải mái để chìm vào giấc ngủ.

Có thể bố mẹ sẽ chưa thấy ngay sự cải thiện chất lượng giấc ngủ của con vì con cũng cần thời gian để thích ứng với lịch trình và điều hòa giấc ngủ. Tuy nhiên bố mẹ hãy kiên trì thực hiện và đồng hành cùng con nhé

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Dạy trẻ 2–3 tuổi kiểm soát cảm xúc và giao tiếp

Kỹ năng xã hội - cảm xúc là gì?

Kỹ năng xã hội - cảm xúc là những kỹ năng giúp trẻ nhận biết cảm xúc của mình, kiểm soát cảm xúc, hòa nhập với người khác và xây dựng các mối quan hệ lành mạnh.

Theo nghiên cứu từ CASEL (Collaborative for Academic, Social, and Emotional Learning, 2013), trẻ có kỹ năng xã hội - cảm xúc tốt sẽ dễ dàng thích nghi với môi trường mới, ít căng thẳng hơn và có khả năng giao tiếp tốt hơn khi lớn lên.

Đặc điểm kỹ năng xã hội - cảm xúc của trẻ 2-3 tuổi

Theo CDC (2021) và AAP (2019), trẻ trong giai đoạn này có một số đặc điểm nổi bật:

2.1. Cảm xúc của trẻ

Bé có thể gọi tên các cảm xúc đơn giản như vui, buồn, giận, sợ.

Bé bắt đầu bộc lộ lo lắng khi xa cha mẹ (hiện tượng “bám mẹ” rất phổ biến).

Bé có thể tự biểu đạt cảm xúc bằng lời nói, ví dụ: “Con không thích!” hoặc “Con giận!”.

2.2. Cách trẻ kiểm soát cảm xúc

Khi giận dữ, bé có thể ăn vạ, khóc lớn hoặc ném đồ chơi, vì bé chưa biết cách điều chỉnh cảm xúc.

Bé bắt đầu học cách tự xoa dịu bản thân, ví dụ như ôm gấu bông khi buồn.

Bé có thể bắt chước cha mẹ hoặc người lớn để điều chỉnh cảm xúc (ví dụ: cha mẹ hít thở sâu khi căng thẳng, bé cũng sẽ học theo).

2.3. Kỹ năng giao tiếp xã hội

Bé thích bắt chước người lớn và những bạn khác.

Bé bắt đầu chơi song song với bạn (parallel play), nhưng chưa thực sự biết chơi chung.

Bé thích tự lập hơn, chẳng hạn như tự mặc quần áo, tự ăn.

2.4. Khả năng đồng cảm và chia sẻ

Khi thấy ai đó buồn, bé có thể an ủi bằng cách ôm bạn hoặc đưa đồ chơi.

Bé bắt đầu biết chia sẻ, nhưng vẫn còn rất “ích kỷ” và dễ giành lại đồ chơi ngay sau khi đưa cho bạn.

Bé dần hiểu về quyền sở hữu, thường xuyên nói “Của con!” khi có ai đó lấy đồ chơi của mình.

Cha mẹ có thể giúp con phát triển kỹ năng này như thế nào?

Có nhiều cách để cha mẹ hỗ trợ con trong quá trình phát triển kỹ năng xã hội - cảm xúc. Dưới đây là những phương pháp khoa học đã được nghiên cứu:

3.1. Gọi tên cảm xúc giúp con hiểu chính mình

Theo nghiên cứu của Gottman et al. (1997), khi cha mẹ giúp trẻ gọi tên cảm xúc, trẻ sẽ học cách kiểm soát và diễn đạt cảm xúc tốt hơn.

Khi con giận, thay vì nói “Đừng khóc!”, hãy nói: “Con đang giận đúng không? Mẹ biết con đang khó chịu.”

Khi con vui vẻ, hãy nói: “Con đang rất vui vì được chơi với bạn đúng không?”

Điều này giúp con nhận thức được cảm xúc của mình và học cách diễn đạt cảm xúc thay vì bộc phát bằng hành động tiêu cực.

3.2. Hướng dẫn con kiểm soát cảm xúc

Theo Murray et al. (2015), kỹ thuật hít thở sâu giúp trẻ kiểm soát cơn giận hiệu quả.

Khi con khóc, hãy hướng dẫn con: “Hít vào, thở ra chậm nào! Mình cùng đếm đến 5 nhé.”

Nếu con ăn vạ, thay vì la mắng, hãy đưa con đến một góc yên tĩnh để con tự bình tĩnh lại.

Việc dạy con kiểm soát cảm xúc ngay từ nhỏ sẽ giúp con dễ dàng vượt qua căng thẳng sau này.

3.3. Dạy con chơi cùng bạn và chia sẻ

Cha mẹ có thể chơi đóng vai với con: “Bây giờ mẹ sẽ đưa đồ chơi cho con, rồi con đưa lại cho mẹ nhé!”

Khi con chia sẻ đồ chơi, hãy khen ngợi: “Con giỏi quá! Con đã biết chia sẻ với bạn.” (Theo nghiên cứu của Dweck, 2006, khen ngợi cụ thể sẽ hiệu quả hơn khen ngợi chung chung như “Con giỏi lắm!”).

Điều này giúp con hiểu rằng chia sẻ là hành động tốt, nhưng không ép buộc con nếu con chưa sẵn sàng.

3.4. Tạo môi trường phù hợp để con học cách giao tiếp

Cho con chơi cùng trẻ khác để con học cách tương tác.

Hướng dẫn con trong các tình huống hàng ngày như cách chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi.

Đọc sách tranh về cảm xúc và xã hội cho con nghe.

Môi trường tích cực sẽ giúp con phát triển kỹ năng này nhanh hơn.

Khi nào cần hỗ trợ chuyên gia?

Nếu con có những dấu hiệu sau, cha mẹ nên tham khảo chuyên gia để được tư vấn:

Không phản ứng với người khác (không giao tiếp bằng mắt, không cười).

Luôn chơi một mình, không quan tâm đến ai xung quanh.

Khóc hoặc nổi giận quá mức mà không thể xoa dịu.

Giai đoạn 2-3 tuổi là thời điểm quan trọng để phát triển kỹ năng xã hội - cảm xúc. Cha mẹ có thể hỗ trợ con bằng cách gọi tên cảm xúc, hướng dẫn kiểm soát cảm xúc, khuyến khích chơi chung và tạo môi trường giao tiếp phù hợp.

Mọi cảm xúc của con đều quan trọng, và cha mẹ chính là người hướng dẫn tốt nhất giúp con trưởng thành về mặt cảm xúc!

—————————————————————

Nguồn tham khảo

CDC (2021). Important Milestones: Your Child by Three Years.

AAP (2019). Emotional and Social Development in Toddlers.

Gottman, J. et al. (1997). The Heart of Parenting.

Dweck, C. (2006). Mindset: The New Psychology of Success.

Kagan, J. (2008). The Temperamental Thread.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Chứng nhại lời ở trẻ tự kỷ

Echolalia, hay còn gọi là chứng nhại lời, là khi trẻ lặp lại chính xác các từ hoặc câu mà chúng nghe từ người khác. Đó có thể là từ của người thân (như cha mẹ, bạn bè, giáo viên…) hoặc những câu nói trong chương trình yêu thích của trẻ. Đây là hiện tượng khá phổ biến ở trẻ tự kỷ.

Chúng ta đều biết, trẻ nhỏ thường bắt chước lời nói từ người xung quanh trong giai đoạn học ngôn ngữ. Trẻ thường lặp lại những từ hoặc câu đã nghe hoặc xem trước đó. Ví dụ, trong quá trình học ngôn ngữ bình thường, trẻ sẽ bắt đầu với những từ đơn giản như “ăn”, “bóc”, “lấy”, “con”… và dần dần ghép chúng lại thành câu.

Ví dụ về quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ:

Ban đầu, trẻ chỉ sử dụng từ đơn như “bim bim”, “ăn”, “con”…

Sau đó, trẻ có thể ghép các từ lại thành câu ngắn: “Con ăn bim bim”.

Dần dần, trẻ sẽ sử dụng những câu dài hơn và linh hoạt hơn để thể hiện mong muốn: “Mẹ giúp con mở bim bim” hay “Con muốn ăn bim bim”.

Tuy nhiên, đối với trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, hành trình học ngôn ngữ lại có sự khác biệt. Trẻ có thể bắt đầu bằng việc sử dụng những câu dài ngay từ đầu mà chưa hiểu rõ ý nghĩa của từng từ. Ví dụ, khi muốn ăn bim bim, trẻ nói một câu dài như “Con có ăn bim bim không?”, và thường xuyên lặp lại câu này trong các tình huống khác mà có thể không thể hiểu rõ nghĩa của từng từ trong câu như “ăn”, “có ăn”, “bim bim”…

Đọc bài phân tích chi tiết tại

Phần 1: Lý giải về chứng nhại lời ở trẻ tự kỷ https://business.facebook.com/photo.php?fbid=749819516942679&set=a.555753129682653&type=3

Phần 2: Cách hỗ trợ trẻ tự kỷ có chứng nhại lời https://business.facebook.com/photo.php?fbid=754432406481390&set=a.555753129682653&type=3

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Việc dùng thuốc cho trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện

Chào mọi người,

Mình vừa đọc xong cuốn "Profound Autism: A Parent's Guide" của National Autism Center và thấy chương 15 về việc dùng thuốc rất hữu ích, nên muốn chia sẻ với mọi người. Trước khi đi vào nội dung chính, mình cần giải thích về thuật ngữ để các bạn hiểu rõ hơn nhé.

Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện (Profound Autism) - Thuật Ngữ Mới Cần Hiểu

Lịch Sử Phát Triển Của Các Hệ Thống Phân Loại Tự Kỷ

Trước Đây (DSM-IV - trước 2013): Tự kỷ được chia thành nhiều chẩn đoán riêng biệt:

  • Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder)
  • Hội chứng Asperger (Asperger Syndrome)
  • Rối loạn phát triển lan tỏa không xác định (PDD-NOS)
  • Rối loạn suy thoái thời thơ ấu (Childhood Disintegrative Disorder)
  • Hội chứng Rett (Rett Syndrome)

Hiện Tại (DSM-5 - từ 2013): Tất cả được gộp thành Rối loạn Phổ Tự Kỷ (ASD) với 3 cấp độ:

  • Level 1: "Cần hỗ trợ" (Requiring Support)
  • Level 2: "Cần hỗ trợ đáng kể" (Requiring Substantial Support)
  • Level 3: "Cần hỗ trợ rất đáng kể" (Requiring Very Substantial Support)

Thuật Ngữ Mới Nhất (2022): Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện (Profound Autism) - ra đời vì các lý do sau:

  • DSM-5 Level 3 chỉ tập trung vào "mức độ hỗ trợ cần thiết"
  • Không đủ mô tả nhóm cần chăm sóc suốt đời
  • Có thể gây nhầm lẫn khi cấp dịch vụ

Định Nghĩa Chính Thức Từ Cuốn Sách

(Lưu ý: Đây là cách hiểu của mình, có thể có giới hạn, mong các bạn bỏ qua nếu không chính xác hoàn toàn)

Theo May Institute và National Autism Center:

Một người tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện có chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ (ASD), cần được chăm sóc 24 giờ/ngày suốt đời, có khuyết tật trí tuệ đáng kể, và không nói được hoặc nói rất ít.

Tại Sao Thuật Ngữ Này Quan Trọng?

  • Khoảng 27% người tự kỷ thuộc nhóm này (tương đương 1/4 trẻ tự kỷ)
  • Nhóm này thường bị "lãng quên" trong các nghiên cứu và chính sách
  • Cần nguồn lực và cách tiếp cận hoàn toàn khác so với tự kỷ mức độ nhẹ hơn

(Lưu ý: Mình sẽ dùng thuật ngữ "tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện" xuyên suốt bài viết này. Đây là cách hiểu cá nhân của mình, có thể có những giới hạn, mong các bạn thông cảm nếu có chỗ nào chưa chính xác)

Tại Sao Trẻ Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện Lại Cần Thuốc?

Với những đặc điểm của tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện, việc sử dụng thuốc thường nhằm hỗ trợ xử lý những vấn đề đi kèm như:

  • Hành vi tự gây tổn thương hoặc hung hăng
  • Tính bốc đồng nghiêm trọng
  • Lo âu, sợ hãi cực độ
  • Khó tập trung và tăng động
  • Trầm cảm

Thuốc Nào Được Chấp Thuận Chính Thức?

Hiện tại FDA (cơ quan quản lý thuốc của Mỹ) chỉ chấp thuận 2 loại thuốc dành riêng cho trẻ tự kỷ:

  • Risperdal (risperidone)
  • Abilify (aripiprazole)

Cả hai đều dùng để điều trị tình trạng "khích động" - tức là khi con hay nổi giận, tự làm hại bản thân, hoặc có những cơn bùng phát cảm xúc.

Tổng Quan Các Loại Thuốc Thường Được Sử Dụng

  • 1. Thuốc Chống Trầm Cảm
  • Mục đích: Điều trị trầm cảm, hành vi lặp đi lặp lại, lo âu
  • Các loại: Prozac®, Zoloft®, Lexapro®, Celexa®, Luvox®, Anafranil®
  • Lưu ý: Thường mất vài tuần mới có hiệu quả
  • 2. Thuốc Chống Loạn Thần
  • Mục đích: Kiểm soát tính hung hăng và hành vi tự gây tổn thương
  • Các loại: Risperdal®, Zyprexa®, Seroquel®, Abilify®, Geodon®
  • Lưu ý: Cần theo dõi tác dụng phụ về vận động
  • 3. Thuốc Chống Co Giật
  • Mục đích: Điều trị co giật, ổn định tâm trạng
  • Các loại: Depakote®, Tegretol®, Lamictal®, Neurontin®, Topamax®
  • Lưu ý: Cần xét nghiệm máu định kỳ
  • 4. Thuốc An Thần (Benzodiazepines)
  • Mục đích: Giảm lo âu
  • Các loại: Ativan®, Xanax®, Klonopin®
  • Lưu ý: Chỉ dùng ngắn hạn, có thể gây phụ thuộc
  • 5. Thuốc Chẹn Beta và Chủ Vận Alpha
  • Mục đích: Điều trị huyết áp cao và lo âu
  • Các loại: Inderal®, Kapvay®, Catapres®
  • 6. Thuốc Kích Thích
  • Mục đích: Điều trị tăng động và thiếu chú ý
  • Các loại: Ritalin®, Concerta®, Adderall®
  • Lưu ý: Cần theo dõi tăng trưởng và giấc ngủ

Những Câu Hỏi Nên Hỏi Bác Sĩ

  • 1. "Tại sao bác sĩ lại chọn thuốc này cho con em?"
  • 2. "Thuốc này đã được thử nghiệm trên trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện chưa ạ?"
  • 3. "Bao lâu thì sẽ thấy hiệu quả?"
  • 4. "Tác dụng phụ thường gặp là gì?"
  • 5. "Nếu con em bỏ sót một liều thì sao?"
  • 6. "Con em có cần tránh thực phẩm hoặc hoạt động nào không?"

Lưu Ý Quan Trọng Về Văn Hóa Dùng Thuốc Tại Việt Nam

Vấn Đề Thuốc Xách Tay

Hiện tại có khá nhiều phụ huynh:

  • Mua thuốc từ nước ngoài về mà không có đơn thuốc
  • Dùng thuốc theo kinh nghiệm của "mẹ bỉm khác"
  • Tự ý điều chỉnh liều lượng

Điều này đặc biệt nguy hiểm với trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện vì:

  • Thuốc không rõ nguồn gốc có thể là hàng giả
  • Liều lượng không phù hợp có thể gây tác dụng phụ nặng
  • Trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện không thể tự báo cáo triệu chứng bất thường

Hệ Quả Nghiêm Trọng

Về mặt hành vi:

  • Hành vi có thể trở nên tệ hơn và nguy hiểm hơn
  • Xuất hiện các triệu chứng mới (run tay, cứng cơ)
  • Ảnh hưởng nghiêm trọng đến giấc ngủ và ăn uống

Về mặt can thiệp:

  • Các liệu pháp ABA, ngôn ngữ bị ảnh hưởng
  • Tiến triển chậm lại hoặc thụt lùi
  • Khó đánh giá hiệu quả can thiệp

Về mặt sức khỏe:

  • Tổn thương gan, thận do dùng sai liều
  • Ảnh hưởng phát triển chiều cao, cân nặng
  • Có thể gây vấn đề tim mạch nghiêm trọng

Theo Dõi Hiệu Quả Thuốc Cho Trẻ Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện

Thách Thức Đặc Biệt

  • Trẻ không thể tự báo cáo cảm giác
  • Khó phân biệt tác dụng thuốc với biến động hành vi tự nhiên
  • Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và team can thiệp

Cách Theo Dõi Hiệu Quả

  • Ghi chép chi tiết về hành vi mục tiêu
  • Theo dõi thay đổi về ăn uống, ngủ nghỉ
  • Phối hợp với thầy cô can thiệp để đánh giá tổng thể

Lời Khuyên Cuối

Với trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện, việc sử dụng thuốc cần được cân nhắc rất kỹ lưỡng:

  • 1. Tìm bác sĩ có kinh nghiệm với trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện cụ thể
  • 2. Không bao giờ tự ý dùng thuốc dù có "kinh nghiệm từ mẹ khác"
  • 3. Theo dõi sát sao mọi thay đổi nhỏ nhất
  • 4. Phối hợp chặt chẽ với team can thiệp
  • 5. Kiên nhẫn - hiệu quả có thể mất thời gian

Nhớ rằng, thuốc chỉ là một phần trong hành trình dài hạn hỗ trợ trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện. Sự kết hợp giữa thuốc và các can thiệp khác mới mang lại hiệu quả tốt nhất.

Nguồn: National Autism Center at May Institute. (2025). Profound Autism: A Parent's Guide. Chapter 1: Introduction & Chapter 15: Medications Prescribed for Autistic Children. Randolph, MA: Author.

Lưu ý quan trọng:

  • 1. Thông tin này chỉ để tham khảo, không thay thế lời khuyên y tế chuyên nghiệp
  • 2. Cách hiểu thuật ngữ "tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện" trong bài là quan điểm cá nhân của mình, có thể có những giới hạn
  • 3. Mọi quyết định về thuốc đều phải có sự tham khảo và giám sát của bác sĩ chuyên khoa các bạn nhé.
Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 1 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 1 of 9

Não bộ khác biệt: vì sao hành vi của con lại như vậy

Mẹ An đưa con trai 4 tuổi đi siêu thị Big C. Ở nhà, mẹ đã quen với việc con hay che tai khi tiếng TV to, hay khó chịu với mùi nước rửa chén, hay cần thời gian dài để chuyển từ chơi sang ăn cơm. Mẹ biết cách điều chỉnh: nhỏ tiếng TV, dùng nước rửa chén không mùi, báo trước 10 phút trước khi ăn.

Nhưng ở siêu thị thì khác. Ánh đèn LED chói chang, tiếng loa thông báo khuyến mãi, mùi thức ăn từ khu đồ ăn, đám đông chen chúc... Tất cả những thứ mẹ không thể kiểm soát được. Con bắt đầu che tai, kéo áo mẹ, rồi bỗng nhiên nằm lăn ra sàn khóc thét. Mọi người nhìn, có người thầm thì.

Mẹ An cảm thấy bối rối và bất lực. Cảm giác lo lắng quen thuộc lại trỗi dậy - nỗi e ngại mỗi khi phải đưa con ra ngoài, không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Nếu bạn từng trải qua tình huống tương tự, bạn không đơn độc. Và quan trọng hơn - bạn không hề làm sai gì cả.

Mình muốn chia sẻ với bạn một điều quan trọng: mỗi con có những đặc điểm não bộ riêng biệt ảnh hưởng đến cách con nhìn và phản ứng với thế giới. Hiểu được điều này, bạn sẽ ngừng tự trách bản thân và bắt đầu trở thành người hiểu con nhất.

Xử lý thông tin giác quan khác biệt

Tại sao cùng một không gian nhưng mẹ cảm thấy bình thường còn con lại "quá tải"?

Hãy thử đặt mình vào vị trí của An ở siêu thị:

  • Ánh đèn LED: Với mẹ là bình thường, với con như tia laser chói mắt
  • Tiếng nhạc nền: Với mẹ là êm tai, với con như tiếng sét đánh
  • Mùi thức ăn từ khu bán đồ ăn: Với mẹ là thơm ngon, với con là nồng nặc khó chịu
  • Đám đông: Với mẹ là sôi động, với con là hỗn loạn không thể chịu nổi

Một số con lại ngược lại - cần kích thích mạnh hơn mới cảm nhận được. Các con này hay:

  • Chạm vào mọi thứ khi đi chợ
  • Nói to, cần âm thanh lớn
  • Thích nhảy nhót, xoay tròn
  • Khó ngồi yên một chỗ

Hành vi "khó hiểu" của con chính là cách não bộ cố gắng điều chỉnh cảm giác cho phù hợp. Con không "hư" - con đang cố gắng “chịu đựng” trong môi trường quá tải với giác quan của mình.

Chức năng điều hành chưa hoàn thiện

Trong não của chúng ta có một "giám đốc" điều hành mọi thứ: lập kế hoạch, kiểm soát cảm xúc, chuyển đổi hoạt động.

Ở trẻ phát triển ổn định, vị "giám đốc" này làm việc khá mượt mà.

Ở trẻ đặc biệt, vị "giám đốc" này còn đang học việc.

Hơn nữa, với những đặc điểm về giác quan khác biệt, mỗi khi con của bạn cảm thấy khó chịu, thì ngay lập tức phản ứng của não bộ sẽ là: con khó chịu quá, phải thoát khỏi hoàn cảnh này/ hoặc con căng thẳng quá…

Khi ấy, một cách tự động, vị “giám đốc” này còn tạm nghỉ, đợi cho đến khi cảm xúc của con ổn định. Do vậy, con sẽ:

  • Khó chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác (từ xem TV sang ăn cơm)
  • Cần nhiều thời gian để quyết định
  • Dễ bị "kẹt" trong các mẫu hành vi
  • Khó lên kế hoạch cho việc sắp tới

Đó là lý do tại sao khi bạn nói "5 phút nữa đi ăn cơm", con cần thời gian "chuyển máy" thay vì phản ứng ngay. Điều này có nghĩa rằng con đang cần thời gian xử lý.

Mối liên hệ ngôn ngữ-hành vi-cảm xúc

Với trẻ chậm nói, hành vi chính là ngôn ngữ. Con biết mình muốn gì, biết mình cảm thấy thế nào, nhưng não bộ gặp khó khăn trong việc chuyển những suy nghĩ đó thành lời nói.

Khi không thể diễn đạt được, con sẽ dùng cách khác để "nói":

  • Kéo tay mẹ đến tủ lạnh = "Con đói"
  • Ném đồ chơi = "Con không thích trò chơi này"
  • La hét ở cửa = "Con muốn ra ngoài"
  • Tự đánh đầu = "Con quá căng thẳng, không biết làm gì"

Nhiệm vụ của chúng ta là trở thành "thông dịch viên" cho con, thay vì phán xét hành vi của con.

Từ "con hư" sang "não bộ khác biệt"

Những dấu hiệu con đang quá tải:

  • Che tai, che mắt
  • Chạy khỏi chỗ đông người
  • Từ chối đồ ăn thường thích
  • Không chịu mặc quần áo nhất định
  • Tự đánh đầu hoặc tự cắn
  • Nổi cơn ở nơi lạ

Do vậy, sau khi đọc bài viết này, bạn hãy tự hướng nội và đặt cho mình 2 câu hỏi:

  1. Khi con có hành vi thách thức, mình có tự hỏi "Con đang cần gì?" thay vì "Tại sao con làm thế?"
  2. Mình có cố gắng tìm hiểu nguyên nhân thay vì chỉ "sửa" hành vi?

Thông điệp của mình với bạn qua hai câu hỏi đó là: hãy hiểu trước, dạy sau.

Tạo môi trường phù hợp

Những điều bạn có thể làm ngay đối với các bạn có rối loạn về giác quan.

Khi đi chợ/siêu thị:

  • Chọn giờ ít đông (sáng sớm, tối muộn)
  • Nói trước với con: "Chúng ta sẽ đi chỗ có nhiều tiếng ồn, mẹ sẽ ôm con nếu con thấy khó chịu"
  • Mang theo đồ chơi yêu thích
  • Chuẩn bị sẵn kế hoạch "thoát hiểm" nếu con quá tải

Tại nhà:

  • Tạo một góc yên tĩnh có gối ôm, chăn mềm để con "nghỉ ngơi não bộ"
  • Giảm tiếng ồn không cần thiết
  • Ánh sáng mềm mại vào buổi tối

Khi hỗ trợ hành vi cho con, bạn hãy nhớ quan sát thay vì phán xét. Mỗi hành vi của con đều có lý do. Khi bạn hiểu, bạn sẽ thương con hơn, và tìm cách giúp con hiệu quả hơn

Mỗi con đều đặc biệt riêng - não bộ khác biệt không có nghĩa là kém cỏi. Việc hiểu được đặc điểm riêng của con sẽ giúp bạn trở thành người hỗ trợ tốt nhất cho con, thay vì vô tình trở thành nguồn căng thẳng.

Bạn không cần phải "sửa" con. Bạn chỉ cần hiểu con để yêu thương con đúng cách.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 2 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 2 of 9

Đừng cố dạy khi con chưa sẵn sàng

Tuần trước chúng ta đã hiểu tại sao não bộ con hoạt động khác biệt. Hôm nay, mình muốn chia sẻ một nguyên tắc quan trọng mà nhiều cha mẹ - kể cả mình - từng mắc sai lầm: cố gắng dạy con khi con chưa sẵn sàng tiếp nhận.

Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng trong thực tế, chúng ta thường làm ngược lại mà không hay biết.

Não bộ điều hành và khả năng học tập

Bạn có thể hình dung não bộ con như một chiếc máy tính. Khi con căng thẳng, lo lắng, hoặc quá tải, bộ xử lý trung tâm của con đang bận rộn xử lý cảm xúc và căng thẳng. Lúc này, phần não bộ điều hành - chịu trách nhiệm học tập, ghi nhớ, tập trung - sẽ bị "tạm nghỉ" tạm thời.

Cố gắng dạy con lúc này giống như cố cài một chương trình mới vào máy tính đang bị lag. Không chỉ không thành công, mà còn có thể làm hỏng cả hệ thống.

Nhưng nhiều lúc, áp lực cuộc sống khiến chúng ta quên mất điều này. Chúng ta muốn con học nhanh, tiến bộ ngay, và thường xuyên "đi ngược" với nhu cầu thực sự của con.

Nền tảng khoa học: window of tolerance

Vậy, làm sao để có thể đọc được các tín hiệu của con để biết khi nào nên dạy, khi nào nên dừng ngay cả khi con chưa thể nói ra? Mình sẽ giới thiệu một cách tiếp cận mà các nhà khoa học trên thế giới khuyên dùng, đó là Window of Tolerance của Dan Siegel.

Window of Tolerance - Vùng ổn định - là khái niệm mô tả các trạng thái khác nhau của não bộ con:

VÙNG XANH - Con sẵn sàng học:

  • Con bình tĩnh, tò mò
  • Có thể tập trung và tiếp nhận thông tin mới
  • Phản ứng phù hợp với tình huống

VÙNG VÀNG - Con bắt đầu căng thẳng:

  • Con còn có thể giao tiếp nhưng đã có dấu hiệu stress
  • Cần hỗ trợ để quay về vùng xanh
  • Có thể học được nếu được điều chỉnh kịp thời

VÙNG ĐỎ - Con quá tải hoàn toàn:

  • Con không thể học được gì cả
  • Cần thời gian và hỗ trợ để ổn định trước
  • Mọi việc dạy dỗ lúc này đều phản tác dụng

Hiểu được điều này, chúng ta sẽ biết khi nào nên dạy, khi nào nên thôi.

Học tập từ các tình huống thường gặp

Tình huống 1: dạy bảo ngay khi trẻ làm hỏng đồ

Tình huống: Con làm đổ nước, ném đồ chơi, hay xé sách.

Phản ứng thường gặp: "Tại sao con làm thế? Con không được làm vậy!"

Cảm xúc của con lúc này: Con đang cảm thấy bối rối, có thể tức giận hoặc sợ hãi vì biết mình "làm sai" do đó con chưa thể xử lý được thông tin logic.

Cách làm đúng:

Bước 1: Giúp con bình tĩnh trước (cùng con hít thở sâu, hoặc cho con một mình)

Bước 2: Khi con đã ổn, hỏi nhẹ nhàng: "Con có thể kể cho mẹ chuyện gì đã xảy ra không?"

Bước 3: Cùng con dọn dẹp và tìm cách tránh lần sau

Tình huống 2: ÉP HOẠT ĐỘNG TĨNH KHI TRẺ CÓ NHIỀU NHU CẦU VẬN ĐỘNG

Tình huống: Con nhảy nhót, lăn lộn, không ngồi yên được.

Phản ứng thường gặp: "Ngồi xuống tô màu đi!" "Làm bài tập vận động tinh này!"

Vấn đề chuyên môn: Con có thể đang tìm kiếm các kích thích cho hệ tiền đình để điều hòa mức độ tỉnh táo. Khi nhu cầu này chưa được đáp ứng đủ, não bộ con không thể duy trì trạng thái tập trung và bình tĩnh. Ép con ngồi yên lúc này khiến con càng mất điều hòa hơn. Ở đây, bạn hãy tạm hiểu “điều hoà” có nghĩa là giúp cơ thể con ổn định, bình tĩnh.

Cách làm đúng:

Bước 1: Cung cấp kích thích tiền đình

Bước 2: Quan sát dấu hiệu cơ thể con đang ổn định: con ngồi được yên hơn, mắt có thể theo dõi, nhịp điệu cơ thể bình ổn hơn.

Bước 3: Khi mức tỉnh táo đã phù hợp, mời con thực hiện hoạt động yêu cầu chú ý lâu dài

Tình huống 3: khi trẻ có phản ứng tránh né xúc giác

Tình huống: Con tránh né đất sét, màu nước, keo dán, hoặc các học liệu khác.

Phản ứng thường gặp: "Không sao đâu, chạm vào đi!”, hoặc ép trẻ thử khi con chưa sẵn sàng.

Vấn đề chuyên môn: Con có phản ứng tránh né các kích thích xúc giác - do con quá nhạy cảm khi sờ, chạm vào các chất liệu khác nhau. Khi hệ xúc giác bị quá tải, phản ứng tự vệ được kích hoạt, khiến con không thể sử dụng tư duy bậc cao và khả năng chú ý kém. Ép tiếp xúc làm tăng phản ứng phòng thủ và ngăn cản việc học.

Cách làm đúng:

Bước 1: Tôn trọng ngưỡng chịu đựng giác quan của con, làm quen từ từ

Bước 2: Cung cấp kích thích cảm giác để làm dịu hệ thần kinh

Bước 3: Khi hệ thống xúc giác đã điều hòa, giới thiệu vật liệu theo từng bước

Tình huống 4: ÉP ĂN KHI TRẺ CÓ RỐI LOẠN GIÁC QUAN VÙNG MIỆNG

Tình huống: Con từ chối ăn, đẩy bát, hoặc ném thức ăn.

Phản ứng thường gặp: "Ăn đi!" Hoặc ép ăn, hoặc đi đến cực đoan là để đói.

Vấn đề chuyên môn: Con có vấn đề xử lý giác quan vùng miệng - quá nhạy cảm với vị, kết cấu, nhiệt độ, hoặc mùi của thức ăn. Khi hệ thống giác quan miệng bị quá tải, con kích hoạt phản ứng tự vệ và không thể duy trì trạng thái bình tĩnh cần thiết cho việc ăn. Ép ăn làm tăng sự lo lắng về ăn uống.

Cách làm đúng:

Bước 1: Đánh giá sở thích giác quan - con chấp nhận được kết cấu/vị nào

Bước 2: Làm dịu hệ thần kinh - bỏ áp lực, tạo môi trường ăn uống tích cực

Bước 3: Mở rộng chế độ ăn dựa trên đặc điểm giác quan - từ từ giới thiệu kết cấu/vị tương tự

Từ những ví dụ trên, bạn thấy, việc hiểu nhu cầu và những biểu hiện của con là vô cùng quan trọng. Đặc biệt, bạn nhận ra một số biểu hiện của con mà nhiều người cho rằng đó là những hành vi sai, hoặc là những hành vi “hư”, thực chất lại chính là những nhu cầu về giác quan, những khó khăn mà con cần chúng ta thấu hiểu, rồi mới giúp con. Phải không bạn.

Nếu bạn đọc đến đoạn này và nhận ra rằng, mình cần tìm hiểu về những vấn đề giác quan của con, thì hãy bắt đầu đi nhé.

Tại sao chúng ta hay vội vàng?

Thực ra, mình hiểu tâm lý của cha mẹ. Chúng ta muốn con học nhanh, tiến bộ ngay, sợ con "thua" bạn bè. Chúng ta có áp lực từ gia đình, từ xã hội, từ chính bản thân mình.

Nhưng sự thật là: những gì chúng ta "tiết kiệm" được hôm nay bằng cách vội vàng, chúng ta sẽ không thể giúp con đúng cách. Con có thể sẽ sợ học, kháng cự nhiều hơn, và mất niềm tin vào chính bản thân, vào chính người lớn đó bạn ạ.

Ngược lại, khi chúng ta kiên nhẫn chờ con sẵn sàng, con sẽ học nhanh hơn, nhớ lâu hơn, và quan trọng nhất - con sẽ yêu thích việc học.

Do vậy, bạn hãy nhớ: Con bạn không phải máy móc có thể bật tắt theo ý muốn. Hãy hiểu và tôn trọng nhịp độ của con chính là cách yêu thương con sâu sắc nhất.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 3 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 3 of 9

Hành vi là cách con giao tiếp với chúng ta

Hai tuần qua chúng ta đã hiểu não bộ con khác biệt như thế nào và biết được thời điểm phù hợp để dạy con. Hôm nay, chúng ta sẽ khám phá một góc nhìn nữa, đó là: Mỗi hành vi đều là cách con đang cố gắng giao tiếp với chúng ta.

Thông điệp mình muốn chia sẻ với các rằng: con không “h/ư” hay "bướng bỉnh" - con đang dùng ngôn ngữ duy nhất mà con biết để "nói chuyện" với chúng ta.

Hành vi = cách con giao tiếp

Hãy thử tưởng tượng bạn đang ở một đất nước mà bạn không biết ngôn ngữ. Bạn đói, bạn mệt, bạn cần giúp đỡ - bạn sẽ làm gì?

Bạn sẽ chỉ tay, cử chỉ, thậm chí có thể la hét để người khác hiểu bạn cần gì.

Con cũng vậy. Mỗi hành vi đều có mục đích. Con đang cố gắng nói với chúng ta điều gì đó quan trọng, chỉ là con chưa có đủ từ ngữ hoặc kỹ năng để diễn đạt một cách "đúng mực" theo chuẩn người lớn.

Nhiệm vụ của chúng ta không phải là ngăn chặn hành vi ngay lập tức, mà là trở thành "thông dịch viên" - hiểu con muốn nói gì và dạy con cách diễn đạt tốt hơn.

Bốn thông điệp chính qua hành vi

Hãy cùng tìm hiểu nhé!

THÔNG ĐIỆP 1: "CON CẦN THOÁT RA!"

Khi nào xuất hiện: Con cảm thấy choáng ngợp, quá tải, hoặc tình huống hiện tại quá khó với con.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Ném sách, đẩy đồ chơi ra xa, chạy ra khỏi phòng, nằm lăn trên sàn, che mặt bằng tay.

Con đang muốn nói: "Mẹ ơi, con không biết làm thế nào! Việc này quá khó với con!"

Ví dụ thực tế: Khi bạn đang dạy con làm bài tập toán, con đột nhiên ném cuốn vở xuống đất và chạy đi. Con không phải "không chịu học" - con đang nói "Bài này khó quá, con cần được giúp đỡ!"

THÔNG ĐIỆP 2: "CON MUỐN CÁI ĐÓ!"

Khi nào xuất hiện: Con có nhu cầu cụ thể chưa được đáp ứng - có thể là đói, khát, muốn chơi, hoặc cần một thứ gì đó.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Khóc, kéo tay mẹ, chỉ tay mạnh mẽ, nổi cơn giận, có thể cắn hoặc đánh.

Con đang muốn nói: "Con cần thứ này ngay! Con không biết cách xin một cách khác!"

Ví dụ thực tế: Con kéo mạnh tay bạn đến tủ lạnh và khóc. Con không "hư" - con đang nói "Con đói/khát và con cần mẹ giúp con lấy thức ăn!"

THÔNG ĐIỆP 3: "CƠ THỂ CON CẦN CÂN BẰNG!"

Khi nào xuất hiện: Hệ thần kinh của con cần được điều chỉnh - có thể con đang căng thẳng, lo lắng, hoặc cần giải tỏa năng lượng.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Đập tay vào người, xoay tròn, nhảy lên nhảy xuống, gặm móng, đung đưa người, chạy vòng quanh.

Con đang muốn nói: "Cơ thể con cần được giải tỏa! Con cần cảm giác an toàn!"

Ví dụ thực tế: Sau một ngày dài ở trường, con về nhà và liên tục nhảy lên nhảy xuống. Con không "hiếu động quá mức" - con đang giải tỏa stress tích tụ trong ngày.

THÔNG ĐIỆP 4: "CON MUỐN MẸ CHÚ Ý!"

Khi nào xuất hiện: Con cảm thấy cô đơn, muốn được kết nối, hoặc cần sự quan tâm từ người thân.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Làm hỏng đồ, gây rối khi mẹ bận, cắn hoặc đánh khi có khách, tự làm tổn thương nhẹ.

Con đang muốn nói: "Con cần mẹ! Con muốn cảm nhận tình yêu của mẹ!"

Ví dụ thực tế: Khi bạn đang nói chuyện điện thoại, con đến kéo áo và làm rơi cốc nước. Con không "phá phách" - con đang nói "Mẹ ơi, con cũng cần mẹ chú ý đến con!"

Tại sao con không nói trực tiếp?

Có những lý do rất dễ hiểu tại sao con lại hành xử thay vì nói:

Con đơn giản là chưa biết cách nói. Làm sao con có thể nói "Con cảm thấy quá tải" khi con 3 tuổi và chưa hiểu từ "quá tải" là gì?

Hành vi có hiệu quả ngay lập tức. Khi con ném đồ chơi, chắc chắn ai cũng nhìn ngay.

Con đã học được: "Làm như thế này thì có người đến giúp con ngay." Đây là cách học hoàn toàn tự nhiên của trẻ.

Nhiều con đặc biệt còn chưa có khả năng nói được, nên hành vi là ngôn ngữ duy nhất mà con có.

Và điều quan trọng là - đây không phải lỗi của con, cũng không phải lỗi của chúng ta. Đó chỉ là cách tự nhiên mà con đang học cách giao tiếp với thế giới.

Cách hiểu và hỗ trợ con

Bước 1: Quan sát như một "thám tử"

Thay vì chỉ tập trung vào hành vi, hãy quan sát toàn bộ "bức tranh":

Quan sát ngôn ngữ cơ thể: Con có nhíu mày không? Vai có cứng không? Tay có run không? Mắt có tránh nhìn không?

Quan sát bối cảnh: Điều gì vừa xảy ra trước khi con có hành vi? Môi trường có ồn ào không? Có ánh sáng chói không? Có mùi lạ không?

Quan sát thời gian: Con đói chưa? Buồn ngủ chưa? Đã ngồi yên quá lâu chưa?

Lắng nghe những gì con nói (nếu có): Có thể con đã cố gắng nói nhưng chúng ta không để ý, hoặc con nói nhỏ quá.

Nhớ rằng, không phải hành vi nào cũng cần được "dịch" bằng lời nói. Đôi khi, việc quan sát và hiểu là đủ.

Bước 2: Dạy con cách giao tiếp phù hợp

Nếu con đã nói được: Dạy con những cụm từ đơn giản và thực tế:

  • “Con cần nghỉ" thay vì ném đồ
  • “Con muốn ăn" thay vì kéo tay mẹ
  • “Con cần ôm" thay vì đánh người khác
  • “Giúp con" khi gặp khó khăn

Nếu con chưa nói được: Tạo ra những cử chỉ quy ước mà cả nhà đều hiểu:

  • Đưa tay ra hiệu "stop" khi cần nghỉ
  • Chỉ tay vào miệng khi đói/khát
  • Vỗ nhẹ vào tay mẹ khi cần chú ý
  • Ôm lấy chính mình khi cần được ôm
  • Đưa ra "thẻ giúp đỡ" khi cần hỗ trợ

Bước 3: Thực hành kiên nhẫn và thực tế

Bắt đầu từ những lúc con bình tĩnh. Đừng cố dạy con cách mới khi con đang trong cơn giận. Hãy luyện tập khi con đang vui vẻ.

Khen con ngay khi con cố gắng. Dù con chưa làm đúng hoàn toàn, hãy ghi nhận nỗ lực của con: "Mẹ thấy con đang cố gắng nói với mẹ! Tuyệt vời!"

Chấp nhận rằng con sẽ cần thời gian. Đừng mong đợi con thay đổi ngay trong 1-2 ngày. Hãy kiên nhẫn và nhất quán.

Chăm sóc bản thân. Việc hiểu và dạy con như thế này rất tốn năng lượng. Hãy nghỉ ngơi và tìm sự hỗ trợ khi cần.

Bạn biết không,

Khi chúng ta bắt đầu "nghe" được ngôn ngữ hành vi của con, chúng ta không chỉ giúp con giao tiếp tốt hơn mà còn xây dựng được mối liên kết sâu sắc hơn với con. Con sẽ cảm thấy được hiểu, được yêu thương và an toàn hơn.

Tuy nhiên, thực tế nuôi dạy con không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Có những lúc con thực sự đang quá tải và cần được hỗ trợ ngay lập tức, nhưng cũng có những lúc con chỉ đang "thử thách" để xem phản ứng của chúng ta.

Bài tiếp theo mình sẽ giúp các bạn: Phân biệt khi nào con thực sự quá tải và khi nào con đang thử thách ranh giới, để chúng ta có thể phản ứng một cách phù hợp và hiệu quả nhất cho từng tình huống cụ thể.

Hãy kiên trì bạn nhé,

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 4 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 4 of 9

Khi nào thì ôm, khi nào thì nghiêm?

Mình hiểu sự day dứt này. Nhiều lúc nhìn con khóc, các bà mẹ thường khó xử, chỉ muốn ôm con vào lòng. Nhưng cũng có lúc, các mẹ biết rằng nếu "nhượng bộ" lần này, con sẽ dùng chiêu khóc lóc để đạt được những thứ con muốn trong tương lai. Và đó là một hệ quả thật là “mệt mỏi” phải không nào.

Như mình quan sát thấy, một số cha mẹ chưa phân biệt được khi nào thì con cần an ủi, vỗ về, khi nào thì nên kiên định bởi vì: 1) yêu con rất nhiều nên điều gì con làm cũng thấy thật dễ thương và dễ chấp nhận và bỏ qua, 2) chưa có kỹ năng phân biệt được hành vi của con, 3) không kiên định với cách làm của mình, và có hơi ỷ lại vào người khác trong việc kiểm soát con, và 4) đi theo một hướng cực đoan (hoặc luôn sẽ mắng, hoặc luôn sẽ chiều theo ý của con)… Hihi, là vậy đấy… phải không các ba mẹ.

Và bạn có biết không: cũng là biểu hiện của khóc to, la hét, có thể ném đồ. Nhìn bề ngoài thì biểu hiện giống nhau, nhưng nguyên nhân và cách xử lý hoàn toàn khác. Các bạn đọc ở bên dưới nhé.

Đây là một vài tình huống con cần sự an ủi và làm dịu cảm xúc trước

  1. CON THỰC SỰ QUÁ TẢI CẢM XÚC

Lúc này con cảm thấy quá tải về cảm xúc, như một cái bình nước đã đầy mà vẫn tiếp tục đổ thêm - cuối cùng bị tràn ra ngoài. Mọi thứ không còn điều khiển được, con dễ bột phát, vỡ oà. Một số trẻ còn rất khó để xoa dịu.

Ví dụ: Bé An sau ngày dài ở trường, tham gia sinh nhật với tiếng nhạc to, đèn nháy. Điều này khiến các giác quan của bé phải làm việc quá nhiều, con dễ quá tải về cảm giác, và cảm xúc lúc đó thật lộn xộn, khó chịu. Cuối ngày, chỉ vì mẹ nói " Cất đồ chơi đi An, đi tắm", mà con khóc to, ném đồ và không thể dừng lại.

  1. CON ĐANG SỢ HÃI, LO LẮNG

Ví dụ: Con khóc vì sợ tiếng sấm, sợ bác sĩ, sợ đi học ngày đầu tiên.

  1. CON KHÔNG BIẾT CÁCH NÓI RA ĐIỀU MÌNH MUỐN

Ví dụ: Con 2 tuổi khóc vì muốn nước nhưng chưa nói được, hoặc không biết cách nói ra được cảm xúc và suy nghĩ bên trong của mình.

  1. CON ỐM, KHÔNG KHỎE

Ví dụ: Con quấy khóc vì đang ốm, mọc răng, hoặc cảm thấy không thoải mái về thể chất.

  1. CON ĐANG BUỒN VÌ LÝ DO KHÁC

Ví dụ: Con buồn vì bạn không chơi cùng, vì mất đồ chơi yêu thích, vì thay đổi bất ngờ trong ngày.

→ Tất cả những tình huống trên đều cần: ôm ấm, an ủi vì điều này giúp não bộ con bình tĩnh lại. Khi được vỗ về, não bộ con sẽ từ từ chuyển từ trạng thái "báo động" về trạng thái "an toàn". Việc mẹ ở bên, nói nhỏ nhẹ sẽ giúp hệ thần kinh con tự điều chỉnh và ổn định trở lại.

KHI CON CẦN AN ỦI TRƯỚC (các tình huống 1-5 ở trên):

Làm gì:

  • Đưa con đến chỗ yên tĩnh
  • Ngồi gần con, có thể ôm nhẹ
  • Nói nhỏ: "Mẹ ở đây với con. Con [mệt/sợ/buồn] lắm phải không? Mẹ hiểu."
  • Chờ con tự bình tĩnh, không vội dạy bảo
  • Sau khi con đã ổn định, mới nói về quy tắc (nếu cần)

CÒN ĐÂY LÀ NHỮNG KHI CON ĐANG "TEST" XEM MẸ CÓ ĐỔI Ý KHÔNG

Bạn sẽ thấy Con vẫn có thể suy nghĩ và quan sát phản ứng của mẹ. Con đang thử xem liệu cách này có giúp mình đạt được điều mình muốn không.

Ví dụ: Bé Minh đang chơi iPad, mẹ báo "5 phút nữa tắt nhé". Đến giờ, bé khóc to và liếc nhìn mẹ trong lúc khóc, xem mẹ có đổi ý không.

→ Lúc này con cần sự kiên định nhưng ấm áp. Việc giữ vững ranh giới giúp não bộ con học được rằng có những quy tắc cần tuân thủ, giúp con phát triển khả năng tự kiểm soát và hiểu được ranh giới an toàn trong cuộc sống.

Khi con đang test - cần kiên định:

Làm gì:

  • Thừa nhận cảm xúc: "Mẹ thấy con giận vì không được chơi tiếp."
  • Giữ vững quy tắc: "Nhưng bây giờ là giờ tắt iPad rồi."
  • Kiên định: "Con có thể khóc, mẹ vẫn ở đây, nhưng iPad vẫn phải tắt."

Ví dụ thực tế giúp bạn thực hành tại nhà

Ví dụ 1: Con khóc vì không được iPad - NHƯNG con mệt

  • Thời điểm: 7h tối, sau ngày học dài
  • Biểu hiện: Con khóc không ngừng, không nhìn mẹ
  • Xử lý: "Con mệt quá rồi. Mẹ hiểu con muốn chơi nhưng giờ con cần nghỉ. Mẹ ở đây với con." → An ủi trước, sau đó mới nói về giờ nghỉ

Ví dụ 2: Con khóc vì không được iPad - NHƯNG con đang test

  • Thời điểm: 3h chiều, con đầy tỉnh táo
  • Biểu hiện: Con khóc nhưng vẫn liếc nhìn mẹ
  • Xử lý: "Con muốn chơi tiếp, mẹ hiểu. Nhưng giờ là lúc nghỉ iPad rồi." → Kiên định

Ví dụ 3: Con khóc vì sợ bác sĩ

  • Biểu hiện: Con khóc, ôm chặt mẹ, run rẩy
  • Xử lý: "Con sợ bác sĩ phải không? Mẹ hiểu. Sợ là bình thường. Mẹ ở đây với con." → An ủi trước, không bắt con "ngoan" ngay lập tức

Ví dụ 4: Con 2 tuổi khóc vì muốn nước

  • Biểu hiện: Con khóc, kéo áo mẹ, chỉ về phía bếp
  • Xử lý: "Con muốn gì đó ở bếp phải không? Con buồn vì chưa nói được. Mẹ giúp con nhé." → Giúp con express + an ủi

Bạn thân mến, hiểu được khi nào con cần an ủi và khi nào cần kiên định sẽ giúp chúng ta tự tin hơn khi đối mặt với những cơn khóc của con. Thay vì day dứt "không biết nên làm gì", giờ chúng ta có cách để quyết định đúng đắn hơn.

À, mình cũng có một điều nhắc nhở thân thiện tới những ba mẹ mà hay chiều con quá ấy, rằng bạn hãy thay đổi thói quen của mình nhé. Buông lơi trong việc rèn giũa con, thì khi con lớn hơn lên, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn để quản con đấy. Con cần tình yêu thương ấm áp, nhưng cũng cần biết đúng biết sai. Đó là việc khó của làm cha mẹ, nhưng mình tin. Bạn hiểu ý của mình và sẽ làm được phải không nào.

Bài tiếp theo mình sẽ chia sẻ về chủ đề: "Cha mẹ bình tĩnh, con mới bình tĩnh" - cách giữ vững cảm xúc khi nuôi dạy con.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 5 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 5 of 9

Cha mẹ ổn định, con mới ổn định

Sau khi đã hiểu về não bộ đặc biệt của con, biết khi nào con sẵn sàng học, nhận ra thông điệp qua hành vi và phân biệt lúc nào cần an ủi hay kiên định - giờ đây chúng ta cần quay về với chính mình. Bởi vì có một sự thật mà nhiều cha mẹ chưa nhận ra: Con không thể tự ổn định nếu cha mẹ chưa ổn định.

Bạn có từng thắc mắc tại sao khi mình căng thẳng thì con cũng bồn chồn? Tại sao mình càng lo lắng thì con càng có nhiều hành vi khó hiểu? Đó không phải trùng hợp. Đó chính là khoa học về sự đồng điều chỉnh - một khái niệm quan trọng mà mọi cha mẹ cần hiểu.

Khoa học về đồng điều chỉnh

Hệ thần kinh của con như một chiếc radio luôn "lắng nghe" tần số cảm xúc của cha mẹ. Khi cha mẹ căng thẳng, cơ thể tiết ra hormone stress, giọng nói thay đổi, cử chỉ cứng nhắc hơn. Con cảm nhận được tất cả những tín hiệu này và hệ thần kinh của con cũng chuyển sang trạng thái báo động.

Ví dụ thực tế: Sáng nay bạn tỉnh dậy muộn, lo sẽ trễ giờ làm. Trong lúc vội vã chuẩn bị, con không chịu mặc quần áo. Bạn bắt đầu nóng ruột: "Nhanh lên! Mẹ trễ giờ rồi!" Giọng nói căng thẳng, cử chỉ vội vã. Con cảm nhận được sự căng thẳng này và... càng không hợp tác. Tại sao? Bởi vì khi hệ thần kinh con ở trạng thái báo động, con không thể tiếp cận được phần não chịu trách nhiệm về hợp tác và lý luận.

Điều kỳ diệu là: Quá trình này cũng có thể diễn ra theo chiều ngược lại. Khi cha mẹ ổn định, con sẽ "mượn" sự ổn định đó để tự điều chỉnh. Đây chính là nền tảng để con sau này phát triển khả năng tự điều chỉnh cảm xúc.

Nhận biết tác nhân gây căng thẳng của chính mình

Để có thể ổn định, trước tiên chúng ta cần nhận ra những gì khiến mình mất cân bằng. Tác nhân gây căng thẳng của mỗi người đều khác nhau, nhưng thường rơi vào các nhóm sau:

Tác nhân gây căng thẳng về thể chất:

  • Thiếu ngủ (ngủ dưới 6 tiếng/đêm)
  • Đói hoặc quên ăn
  • Mệt mỏi tích tụ
  • Không có thời gian vận động

Tác nhân gây căng thẳng về tình huống:

  • Trễ giờ hoặc bị thúc ép về thời gian
  • Áp lực công việc tích tụ
  • Con không nghe lời khi đang vội
  • Bị người khác phán xét cách nuôi dạy con

Tác nhân gây căng thẳng về cảm xúc:

  • Cảm giác bất lực khi con có hành vi khó hiểu
  • Tự trách mình "tại sao tôi không đủ tốt"
  • Sợ bị người khác nghĩ mình là cha mẹ tệ
  • So sánh con mình với con nhà người ta

Bài tập thực hành: Trong 1 tuần tới, hãy ghi chú lại những lúc bạn cảm thấy khó kiểm soát. Tác nhân gây căng thẳng nào xuất hiện? Cơ thể bạn có biểu hiện gì? Điều này sẽ giúp bạn nhận ra quy luật của riêng mình.

Kỹ thuật điều chỉnh nhanh 30 giây

Khi nhận ra mình đang ở trạng thái căng thẳng, đây là cách để nhanh chóng trở về trạng thái ổn định:

S.T.O.P - Kỹ thuật 30 giây:

STOP (Dừng lại): Ngừng mọi hành động đang làm. Không phản ứng ngay lập tức với tình huống.

TAKE A BREATH (Hít thở sâu): Hít vào từ từ qua mũi trong 4 giây, giữ 2 giây, thở ra qua miệng trong 6 giây. Lặp lại 3 lần.

OBSERVE (Quan sát): Quan sát con một cách bình tĩnh và khách quan. Con đang cần gì từ mình ngay bây giờ?

PAUSE & PROCEED (Tạm dừng và hành động): Tự hỏi: "Phản ứng như thế nào sẽ giúp ích cho cả hai?" Rồi mới hành động.

Ví dụ áp dụng: Con làm đổ nước lên sàn nhà mới lau.

Phản ứng từ trạng thái căng thẳng: "Trời ơi! Sao con cẩu thả thế! Mẹ vừa lau xong mà! Dọn ngay!" → Con sẽ sợ hãi, có thể khóc hoặc càng cứng đầu hơn.

Phản ứng từ trạng thái ổn định: [STOP - hít thở sâu] "Ôi, nước đổ rồi. Không sao đâu con. Con có cần mẹ giúp dọn không?" → Con học được cách xử lý lỗi một cách bình tĩnh và được hỗ trợ.

Xây dựng thói quen ổn định hàng ngày

Việc điều chỉnh nhanh trong 30 giây rất hữu ích, nhưng để bền vững, chúng ta cần xây dựng thói quen giúp bản thân ổn định từ đầu ngày:

Thói quen buổi sáng (5 phút): Trước khi dậy khỏi giường, nằm yên 5 phút. Hít thở sâu và đặt mục tiêu cho ngày mới: "Hôm nay tôi sẽ là mẹ bình tĩnh và hiện diện mà con cần."

Kiểm tra cảm xúc trong ngày: Thỉnh thoảng, hỏi bản thân: "Bây giờ mình đang cảm thấy thế nào? Cần gì để ổn định hơn?" Có thể là uống một cốc nước, đi ra ban công hít thở, hoặc chỉ đơn giản là thả lỏng vai gáy. Thực ra, điều này nghe có vẻ hơi kì kì, nhưng bạn biết không: đối với người không đối mặt với căng thằng thường xuyên thì có lẽ họ không cần kiểm tra trạng thái của bản thân. Nhưng những cha mẹ có con đặc biệt, việc nhận diện cảm xúc và trạng thái có thể khiến bạn tìm được cách giúp chính mình mỗi ngày.

Kết thúc ngày tích cực: Trước khi ngủ, nhớ lại 3 khoảnh khắc trong ngày mà bạn đã xử lý tình huống một cách ổn định. Điều này sẽ củng cố khả năng ứng phó tích cực của não bộ cho việc ứng phó tích cực.

Khi nào cần hỗ trợ chuyên nghiệp

Có những lúc dù cố gắng áp dụng các kỹ thuật trên, chúng ta vẫn cảm thấy quá tải. Đây là những dấu hiệu cho thấy bạn cần tìm kiếm sự hỗ trợ:

  • Thường xuyên khó kiểm soát cảm xúc với con (hơn 3-4 lần/tuần)
  • Cảm thấy tuyệt vọng hoặc trống rỗng kéo dài
  • Mất ngủ hoặc ăn uống không đều do căng thẳng
  • Cảm giác cô lập, không ai hiểu được tình huống của mình

Bạn hãy tin rằng, tìm kiếm hỗ trợ không phải là dấu hiệu thiếu mạnh mẽ. Đó là dấu hiệu của một cha mẹ thông minh, biết rằng để chăm sóc con tốt nhất, mình cũng cần được chăm sóc.

Cuối cùng, thông điệp của mình là: Con cần cha mẹ đủ ổn định để có thể là "chắn sóng" trong những cơn bão cảm xúc của cuộc sống. Khi chúng ta học cách điều chỉnh bản thân, chúng ta đang dạy con kỹ năng quý giá nhất - khả năng tự chủ cảm xúc.

Bài tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá cách dạy con những kỹ năng điều chỉnh cảm xúc thông qua việc làm mẫu. Bởi vì con học từ những gì chúng ta làm, nhiều hơn những gì chúng ta nói.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 6 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 6 of 9

Đồng điều chỉnh: cùng con vượt qua cơn bão cảm xúc

Trong bài 5, chúng ta đã học cách giữ cho bản thân ổn định. Nhưng có một câu hỏi mà rất nhiều cha mẹ đặt ra: "Tại sao tôi đã bình tĩnh rồi, nhưng con vẫn không thể bình tĩnh?"

Nếu bạn đang có câu hỏi này, hãy biết rằng bạn không hề làm sai gì cả. Đôi khi, những phản ứng tự nhiên nhất của chúng ta - những phản ứng xuất phát từ tình yêu thương - lại không đem lại kết quả mong muốn. Điều này không có nghĩa là chúng ta tệ. Điều này có nghĩa là não bộ của trẻ hoạt động khác với những gì chúng ta tưởng tượng.

Những phản ứng tự nhiên mà đôi khi chưa hiệu quả

Hãy cùng mình nhìn vào những phản ứng mà hầu hết cha mẹ đều có khi con gặp khó khăn về cảm xúc:

Muốn con bình tĩnh ngay lập tức: "Thôi đừng khóc nữa. Không có gì đâu mà!" "Bình tĩnh lại đi con!"

Khi thấy con khổ sở, bản năng của chúng ta là muốn "tắt" cảm xúc đó càng nhanh càng tốt. Nhưng não bộ của trẻ cần thời gian để xử lý cảm xúc mạnh.

Nói quá nhiều khi con đang quá tải: "Con khóc vì sao? Con nói cho mẹ nghe đi. Mẹ sẽ giải quyết cho con. Không sao đâu. Lần sau con nhớ là..."

Khi con đang trong cơn bão cảm xúc, phần não chịu trách nhiệm về ngôn ngữ và lý luận gần như "tắt" hoàn toàn. Lời nói lúc này chỉ trở thành thêm tiếng ồn.

Đòi hỏi kết nối khi con chưa sẵn sàng: "Nhìn mẹ đi con. Ôm mẹ đi. Nói cho mẹ nghe con cảm thấy thế nào."

Một số trẻ cần không gian để tự điều chỉnh trước khi có thể kết nối với người khác. Việc đòi hỏi sự gần gũi có thể khiến con thêm căng thẳng.

Hiểu nhầm hành vi của con: "Con cố tình làm khó mẹ!" "Con không nghe lời!"

Khi con đang quá tải cảm xúc, con không thể "nghe lời" dù có muốn. Đây là vấn đề về khả năng não bộ, không phải về thái độ.

Thay đổi cách tiếp cận giữa chừng: Một lúc dỗ dành, một lúc kiên quyết, một lúc lại thử đánh lạc hướng sự chú ý của con. Việc thay đổi liên tục khiến con thêm bối rối khi đã đang khó khăn.

Lưu ý đặc biệt với các bạn có nhu cầu đặc biệt

Với những bạn nhỏ đặc biệt như trẻ tự kỷ, ngoài những điểm ở trên, cha mẹ cần cân nhắc thêm đến đặc điểm về giác quan của con. Giác quan của con là cách con cảm nhận thế giới, đôi khi rất khác với cách chúng ta cảm nhận.

Có những điều người xung quanh thấy bình thường, nhưng con lại cảm thấy rất khó chịu. Ví dụ, những bạn nhạy cảm với âm thanh sẽ dễ khóc hoặc bỏ trốn khỏi siêu thị vì tiếng loa phát thanh, tiếng xe đẩy kêu cọt kẹt. Những bạn nhạy cảm với sự thay đổi sẽ có phản ứng cảm xúc mạnh chỉ vì hôm nay đi đường khác về nhà, hoặc bữa tối có món mới.

Khi con có những phản ứng này, việc đầu tiên không phải là hỗ trợ cảm xúc, mà là giải quyết vấn đề giác quan trước. Ra khỏi môi trường ồn ào, trở về thói quen quen thuộc, hoặc giảm bớt các tác nhân gây khó chịu.

Hiểu được đặc điểm giác quan của con sẽ giúp cha mẹ hỗ trợ hiệu quả hơn rất nhiều. Chúng ta sẽ khám phá chi tiết hơn về điều này trong bài tiếp theo.

Xây dựng kết nối qua những khoảnh khắc khó khăn

Niềm tin được tích lũy từng chút một: Mỗi lần con gặp khó khăn và cảm thấy được hỗ trợ mà không bị phán xét, con sẽ tin tưởng cha mẹ hơn một chút. Những khoảnh khắc này quan trọng hơn chúng ta tưởng.

Ví dụ thực tế: Con 5 tuổi khóc vì bạn không chơi cùng ở trường. Thay vì: "Thôi, có nhiều bạn khác mà! Đừng buồn nữa!" Thử: "Con đang buồn vì bạn An không chơi cùng. Được mẹ ôm không?"

Tạo cảm giác an toàn cảm xúc: Khi con biết rằng mọi cảm xúc đều được chấp nhận và không có cảm xúc nào bị coi là "xấu", con sẽ thoải mái chia sẻ với cha mẹ hơn.

"Tức giận là bình thường con à. Mọi người đều có lúc tức giận." "Con cảm thấy thế nào cũng được. Mẹ sẽ ở bên con."

Dạy con rằng cảm xúc sẽ qua đi: Thay vì cố gắng "chữa" cảm xúc ngay lập tức, hãy giúp con trải nghiệm việc cảm xúc tự nhiên nhẹ đi theo thời gian.

"Cảm xúc này rất mạnh nhỉ. Chúng ta cùng chờ xem nó sẽ nhẹ dần như thế nào."

Tăng cường mối quan hệ cha mẹ - con: Những lúc con khó khăn nhất chính là cơ hội để thể hiện tình yêu vô điều kiện. "Dù con như thế nào, mẹ/bố vẫn yêu con và sẽ ở bên con."

Thực hành xây dựng kết nối hàng ngày

10 phút tập trung hoàn toàn cho con mỗi ngày: Không có điện thoại, không có việc nhà. Chỉ có bạn và con. Làm những gì con muốn làm, theo nhịp độ của con. Đây chính là "vốn" cho những lúc khó khăn.

Nhận biết và hỗ trợ từ sớm: Học cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu khi con bắt đầu căng thẳng. Hỗ trợ sớm luôn dễ dàng hơn "cứu hỏa" khi con đã meltdown hoàn toàn.

"Mẹ thấy con đang bắt đầu mệt. Con có muốn nghỉ một chút không?"

Ghi nhận những lần con chấp nhận giúp đỡ: "Hôm nay con đã để mẹ ôm khi con buồn. Cảm ơn con đã tin tưởng mẹ.""Con đã thử hít thở sâu như mẹ dạy. Mẹ thấy con rất cố gắng."

Việc ghi nhận này giúp con hiểu rằng việc nhận hỗ trợ là điều tích cực, không phải dấu hiệu yếu đuối.

Tự đánh giá và điều chỉnh cách tiếp cận: Cuối ngày, dành vài phút tự hỏi:

  • Hôm nay tôi đã hiện diện với con như thế nào?
  • Những lúc nào con cảm thấy được hỗ trợ nhất?
  • Điều gì tôi có thể làm khác đi ngày mai?

Bạn hãy nhớ rằng: Việc xây dựng kết nối cảm xúc với con là một quá trình dài. Có những ngày bạn sẽ làm rất tốt, có những ngày bạn sẽ cảm thấy như mình đang “s”ai. Đó là điều hoàn toàn bình thường.

Mỗi khoảnh khắc khó khăn mà bạn và con cùng vượt qua, cả hai đều trở nên mạnh mẽ hơn. Khi con cảm thấy được hiểu và được hỗ trợ, con sẽ từ từ học cách tự điều chỉnh cảm xúc - và đó chính là những gì chúng ta sẽ khám phá ở bài tiếp theo.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 7 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 7 of 9

Khoa học về dạy con tự điều chỉnh cảm xúc

Trong bài trước, chúng ta đã học cách hỗ trợ con qua những khoảnh khắc khó khăn thông qua đồng điều chỉnh. Nhưng có một câu hỏi mà nhiều cha mẹ đặt ra: "Bao giờ con mới có thể tự xử lý được cảm xúc mà không cần mẹ/bố?"

Đây là một mong muốn hoàn toàn tự nhiên. Chúng ta muốn con trở thành những người độc lập, có thể đối mặt với thăng trầm của cuộc sống. Nhưng để đạt được điều đó, chúng ta cần hiểu về khoa học đằng sau quá trình học cách tự điều chỉnh cảm xúc.

Tại sao con chưa thể tự điều chỉnh

Não bộ chưa trưởng thành: Vùng não trước trán - là một trong những vùng cuối cùng trưởng thành, tiếp tục phát triển đến giữa tuổi 20. Mỗi con có tốc độ phát triển khác nhau. Điều này có nghĩa là ngay cả thanh thiếu niên đôi khi vẫn gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc, chưa nói gì đến trẻ nhỏ.

Hãy tưởng tượng não bộ của con như một ngôi nhà đang xây dựng. Tầng trệt (cảm xúc cơ bản) đã hoàn thành, nhưng tầng trên (kiểm soát cảm xúc) vẫn đang trong quá trình thi công. Chúng ta không thể yêu cầu con sử dụng một căn phòng chưa được xây xong.

Con cần học từ người lớn: Khác với việc học đi hay nói, khả năng điều chỉnh cảm xúc không phải là kỹ năng tự nhiên. Con cần được dạy cách làm. Và người thầy tốt nhất chính là cha mẹ - những người con quan sát mỗi ngày.

Ví dụ thực tế: Khi con thấy mẹ tức giận vì kẹt xe nhưng hít thở sâu và nói "Mẹ cần bình tĩnh lại", con đang học được một bài học vô giá về cách xử lý cảm xúc khó chịu.

Con học cách điều chỉnh cảm xúc nhu thế nào

Quan sát và bắt chước: Não bộ của trẻ có những tế bào thần kinh đặc biệt gọi là "tế bào gương". Những tế bào này kích hoạt cả khi con thực hiện một hành động và khi con quan sát người khác thực hiện hành động đó. Đây chính là lý do tại sao con thường sao chép cách cư xử của cha mẹ, dù chúng ta không cố ý dạy.

Lặp đi lặp lại: Một lần thấy mẹ hít thở sâu thôi là chưa đủ. Con cần thấy cha mẹ áp dụng cùng một phương pháp hàng trăm lần trong các tình huống khác nhau để nó trở thành kỹ năng trong não bộ của con.

Cảm xúc lây lan: Khoa học đã chứng minh rằng cảm xúc có thể "lây" từ người này sang người khác, đặc biệt là từ cha mẹ sang con. Khi chúng ta bình tĩnh, con cũng dễ bình tĩnh hơn. Khi chúng ta lo lắng, con cũng cảm nhận được sự lo lắng đó.

Từ bên ngoài vào bên trong: Ban đầu, con chỉ có thể bình tĩnh khi cha mẹ ở bên cạnh (điều chỉnh từ bên ngoài). Dần dần, những gì con quan sát được sẽ trở thành kỹ năng nội tại (tự điều chỉnh từ bên trong).

3 Nguyên tắc vàng khi dạy con

Nói ra → Thực hiện → Thực hành cùng: Đầu tiên, nói ra những gì mình đang làm: "Mẹ đang tức giận, mẹ sẽ hít thở sâu". Tiếp theo, thực sự làm hành động đó để con thấy. Cuối cùng, mời con thực hành cùng: "Con có muốn hít thở cùng mẹ không?"

Kết nối trước, sửa chữa sau: Trước khi dạy con bất cứ kỹ năng gì, hãy đảm bảo con cảm thấy được hiểu và được yêu thương. Con sẽ không thể học khi đang cảm thấy bị phán xét hoặc cô lập.

Nhất quán quan trọng hơn hoàn hảo: Thà cha mẹ áp dụng cùng một phương pháp đơn giản một cách nhất quán, còn hơn là thử nhiều phương pháp phức tạp nhưng không kiên trì. Con cần sự dự đoán được để học.

Lưu ý đặc biệt với trẻ có nhu cầu đặc biệt

Với những bạn có nhu cầu đặc biệt, việc làm mẫu vẫn rất hiệu quả nhưng cần sự kiên trì và điều chỉnh phù hợp.

Trẻ tự kỷ: Do khó khăn trong việc đọc hiểu cảm xúc và biểu cảm, các bạn này cần thấy hành động rõ ràng và cường độ cao hơn. Thay vì chỉ nói "Mẹ hít thở sâu", cần thể hiện một cách rất rõ ràng: hít vào sâu và rõ ràng, thở ra chậm, có thể kết hợp với cử chỉ tay. Quá trình học có thể mất từ nhiều tháng đến vài năm, nhưng một khi đã thành thói quen, con sẽ áp dụng rất nhất quán.

Trẻ tăng động giảm chú ý: Các bạn này học tốt nhất qua hành động và chuyển động. Thay vì chỉ ngồi hít thở, có thể kết hợp với động tác nhảy tại chỗ hoặc nắm chặt nắm tay. Cần lặp lại rất nhiều lần vì khả năng tập trung ngắn, nhưng một khi học được, con sẽ áp dụng một cách tự nhiên vào cuộc sống.

Trẻ chậm ngôn ngữ: Không dựa vào lời nói để dạy mà tập trung hoàn toàn vào hành động và cử chỉ. Con có thể không nói được "Mẹ đang tức giận" nhưng con vẫn có thể học cách hít thở sâu, ôm gối, hoặc đi đến góc yên tĩnh. Tín hiệu hình ảnh và thói quen sẽ rất quan trọng.

Điểm chung: Tất cả các nhóm trẻ này đều cần thời gian dài hơn và sự lặp lại nhiều hơn. Nhưng khi đã học được, họ thường áp dụng kỹ năng một cách rất hiệu quả và bền vững.

Kỳ vọng thực tế về thời gian

2-3 tuổi: Con có thể học những cách đơn giản như hít thở cùng người lớn, ôm đồ chơi khi buồn.

4-6 tuổi: Con có thể áp dụng các kỹ thuật với sự nhắc nhở và hướng dẫn. Ví dụ: "Con có nhớ cách thổi nến sinh nhật không?" khi con cần bình tĩnh.

7-10 tuổi: Con bắt đầu có thể tự nhận biết cảm xúc và áp dụng một số kỹ thuật mà không cần nhắc nhở trong những tình huống quen thuộc.

11+ tuổi: Con phát triển khả năng suy nghĩ về cảm xúc của mình và áp dụng các chiến lược phức tạp hơn.

Lưu ý quan trọng: Đây chỉ là khung thời gian tham khảo. Mỗi con phát triển theo nhịp độ riêng, và có những ngày con sẽ "lùi" về những giai đoạn trước đó. Điều này hoàn toàn bình thường.

Bạn hãy nhớ rằng: Việc dạy con tự điều chỉnh cảm xúc không phải một cuộc đua tốc độ. Đó là một khoản đầu tư dài hạn cho tương lai của con. Mỗi lần con thấy cha mẹ xử lý cảm xúc một cách tích cực, con đang học được một kỹ năng sống quý giá.

Hiểu được khoa học đằng sau quá trình này sẽ giúp chúng ta kiên nhẫn hơn và có những kỳ vọng thực tế hơn. Bài tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá những công cụ cụ thể và cách thực hành trong cuộc sống hàng ngày.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 8 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 8 of 9

Công cụ và thực hành dạy con tự điều chỉnh

Trong bài trước, chúng ta đã hiểu được khoa học về cách con học điều chỉnh cảm xúc thông qua việc quan sát và bắt chước cha mẹ. Nhưng mình biết câu hỏi mà nhiều cha mẹ đặt ra là: "Cụ thể thì tôi cần dạy con những gì? Có những công cụ nào con có thể tự sử dụng được?"

Không có một công thức cố định cho tất cả trẻ em, bởi mỗi con đều có tính cách và cách học riêng. Nhưng có những công cụ đã được kiểm nghiệm qua thời gian và phù hợp với từng độ tuổi. Hãy cùng khám phá những công cụ này và cách áp dụng trong thực tế.

Công cụ cụ thể theo lứa tuổi

2-4 tuổi - Những viên gạch đầu tiên:

Hít thở "Thổi hoa bồ công anh": Thay vì chỉ nói "hít thở sâu", hãy nói "Con hít sâu sâu, rồi thổi nhẹ nhẹ để hoa bay đi". Làm mẫu bằng cách thổi thật nhẹ vào tay con.

Ôm chặt và thả lỏng: Dạy con nắm chặt tay thành nắm đấm, rồi thả ra. "Ôm chặt tất cả những cảm xúc khó chịu, rồi thả ra ngoài."

"Cảm xúc sẽ đi": Sử dụng hình ảnh đơn giản: "Buồn sẽ đi như mưa ngừng", "Tức giận sẽ nhẹ như mây trôi".

Góc an toàn: Tạo một góc nhỏ với gối ôm và đồ chơi mềm, nơi con có thể đến khi cần bình tĩnh.

5-8 tuổi - Phát triển kỹ năng:

"Nhiệt kế cảm xúc" từ 1-10: Dạy con tự đánh giá: "Con cảm thấy tức giận mức mấy trên thang 10?" Điều này giúp con có ngôn ngữ để mô tả cảm xúc.

Kỹ thuật 5-4-3-2-1: "Con hãy nói cho mẹ 5 thứ con nhìn thấy, 4 thứ con nghe được, 3 thứ con chạm được, 2 thứ con ngửi được, 1 thứ con nếm được." Mình thấy công cụ này giúp con tập trung vào hiện tại rất hiệu quả.

"Tạm dừng như đèn đỏ": Dạy con quy trình: Dừng lại (đèn đỏ) → Hít thở (đèn vàng) → Suy nghĩ → Hành động (đèn xanh).

Nhật ký cảm xúc: Mỗi tối, con vẽ hoặc viết về cảm xúc trong ngày. Bạn đừng làm phức tạp nhé, chỉ cần biểu tượng cảm xúc và một câu ngắn là đủ.

9+ tuổi - Chiến lược nâng cao:

Các bước giải quyết vấn đề: Xác định vấn đề → Nghĩ các lựa chọn → Cân nhắc hậu quả → Chọn phương án tốt nhất.

Thay đổi góc nhìn: "Nếu bạn thân của con gặp tình huống này, con sẽ khuyên bạn ấy như thế nào?"

Suy nghĩ dài hạn: "10 phút nữa con sẽ cảm thấy thế nào về việc này? Ngày mai thì sao?"

Tự nói chuyện tích cực: Dạy con thay thế "Tôi làm không được" bằng "Tôi đang học cách làm".

Scripts (mẫu câu) và ví dụ thực tế

Tình huống 1: Con 5 tuổi giận dữ vì không được mua kẹo ở siêu thị

Bước 1 - Thừa nhận cảm xúc: "Mẹ thấy con tức giận vì không mua được kẹo."

Bước 2 - Làm mẫu: "Khi mẹ tức giận, mẹ thường hít thở sâu để bình tĩnh lại. Con thử cùng mẹ nhé - hít sâu như ngửi hoa, thở ra như thổi bong bóng."

Bước 3 - Kết nối: "Giờ chúng ta đã bình tĩnh rồi. Con có muốn kể cho mẹ nghe tại sao con muốn kẹo không?"

Bước 4 - Củng cố: "Tức giận là chuyện bình thường. Con đã làm rất tốt khi hít thở cùng mẹ để bình tĩnh lại."

Tình huống 2: Con 8 tuổi căng thẳng vì bài kiểm tra toán

Đánh giá tình huống: "Con cảm thấy lo lắng mức mấy trên thang 10?"

Làm mẫu: "Khi bố lo lắng về công việc, bố thường đi bộ quanh nhà 5 phút để đầu óc thoáng hơn."

Thực hành cùng nhau: "Chúng ta thử kỹ thuật 5-4-3-2-1 nhé. Con hãy kể 5 thứ con nhìn thấy trong phòng này."

Lập kế hoạch: "Giờ con cảm thấy bình tĩnh hơn rồi. Con muốn làm gì để chuẩn bị tốt cho bài kiểm tra?"

Xây dựng "bộ công cụ cảm xúc" riêng cho con

Bước 1: Quan sát con của mình

Mỗi con đều khác nhau. Bạn nên chú ý:

Con phản ứng tốt nhất với loại hỗ trợ nào? Chuyển động, thở, hình ảnh hay âm thanh?

Lúc nào trong ngày con dễ tiếp thu nhất?

Con thích tự làm hay được hướng dẫn từng bước?

Ví dụ: Bé Minh 6 tuổi thích chuyển động khi căng thẳng, nên mẹ dạy con "nhảy giải tỏa" 10 lần thay vì chỉ ngồi hít thở. Bé An 7 tuổi lại thích yên tĩnh, nên bố dạy con kỹ thuật đếm ngược từ 20. Mình nghĩ bạn nên quan sát con mình để tìm ra cách phù hợp nhất.

Bước 2: Tạo bộ công cụ cá nhân hóa

Từ những gì quan sát được, bạn hãy tạo cho con:

2-3 công cụ "chủ lực" mà con có thể làm được

1 không gian an toàn hoặc đồ vật an ủi

1-2 câu nói đơn giản cho những tình huống thường gặp

"Khi con tức giận, con có thể: hít thở như thổi hoa, ôm gấu bông, hoặc đến góc yên tĩnh. Con muốn thử cái nào trước?"

Bước 3: Thực hành trong lúc bình tĩnh

Mình thấy đây là bước quan trọng nhất mà nhiều cha mẹ bỏ qua. Bạn đừng chỉ dạy khi con đang khó khăn về cảm xúc nhé.

Mỗi ngày dành 5 phút thực hành khi con vui vẻ: "Chúng ta cùng luyện tập hít thở thổi hoa nhé! Hôm nào con buồn thì con đã biết cách làm rồi."

Mình nghĩ bạn nên biến việc thực hành thành trò chơi: "Con thử xem có thể đếm ngược từ 10 nhanh thế nào không? Đây là 'phép thuật' giúp con bình tĩnh đấy!"

Bạn hãy nhớ rằng: Những công cụ này cần thời gian để trở thành thói quen. Đôi khi con sẽ quên áp dụng, đôi khi sẽ từ chối sử dụng - mình thấy điều này hoàn toàn bình thường. Sự kiên nhẫn và nhất quán của cha mẹ chính là chìa khóa để những kỹ năng này trở thành phản xạ tự nhiên của con.

Bài tiếp theo, chúng ta sẽ nói về việc chăm sóc bản thân - làm sao để cha mẹ có đủ năng lượng cho hành trình dài này.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 9 trong 9Series: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Part 9 of 9

Mình cũng cần được chăm sóc

Hôm nay mình muốn nói về điều mà rất nhiều cha mẹ hay nói với mình: "Chờ con ổn định rồi, mình sẽ lo cho bản thân sau". Nghe quen không các bạn?

Mình hiểu mà. Khi con mình cần nhiều hỗ trợ, việc nghĩ đến bản thân cảm giác như... ích kỷ quá. Lại còn có người nói "làm mẹ phải hy sinh", "con còn khó khăn mà mẹ còn lo cho mình". Nhưng thật ra, hành trình này dài lắm, và nếu mình không chăm sóc bản thân, làm sao có sức để đồng hành cùng con được?

Thực tế của cha mẹ Việt Nam mình

Mình biết rằng, nhiều gia đình trong số các bạn phải gánh vác rất nhiều: lo con đặc biệt, lo con khác, lo tiền bạc, lo công việc. Có khi còn phải chăm ông bà nữa. Cuối ngày về nhà, chỉ muốn ngã lăn ra giường.

"Đâu có thời gian mà chăm sóc bản thân?". Có bạn còn nói "mình nghỉ ngơi là con sẽ mất cơ hội phát triển". Nhưng bạn ơi, tự chăm sóc bản thân không phải là đi spa hay gym đâu. Với góc nhìn của mình, self-care có thể là những cách rất đơn giản và vẫn hiệu quả.

Một số mách nhỏ cho các ba mẹ, các bạn thử những cách sau xem sao nha

5 phút mỗi ngày: Thay vì nhấp nhanh một cốc nước, hãy ngồi xuống, uống từ từ, cảm nhận vị ấm của nước. Hít thở sâu 3 lần. Vậy thôi.

Tận dụng việc nhà: Khi nấu ăn, mở nhạc mình thích. Khi phơi đồ, để ý cảm giác gió thổi. Biến công việc thành khoảnh khắc thư giãn.

Khi chờ con đi can thiệp: Thay vì lướt điện thoại, thử ngồi thở sâu, quan sát xung quanh. Con đang an toàn trong phòng, mình có 10 phút cho bản thân.

Hạ tiêu chuẩn xuống: Nhà bừa một chút không sao đâu. Cơm chiên trứng thay vì nấu nhiều món cũng được. Sức khỏe mình quan trọng hơn nhà cửa hoàn hảo. Ai nói gì thì nói, con khỏe mẹ khỏe mới là điều quan trọng. Nếu hôm nay mệt quá, thì hãy ưu tiên bản thân một chút nhé.

Tuy nhiên, có một số gia đình sẽ có những hoàn cảnh khác nhau, bạn thử xem những cách ở bên dưới có giúp ích gì cho bạn không nha.

Nếu có ông bà giúp: Nhờ trông con 30 phút để mình đi bộ quanh xóm, hay chỉ nằm yên không làm gì. Bạn đừng lo lắng, hãy nghĩ rằng mẹ nghỉ chút để có sức chăm con tốt hơn. Như một hình thức được sạc lại pin nhanh ấy.

Chia sẻ công việc với đối tác (chồng/vợ): Nuôi dưỡng một em bé đặc biệt sẽ khó hơn các em nhỏ có sự phát triển ổn định. Bạn nên có trao đổi với đối tác của mình và có sự phân công, chia sẻ trong việc chăm sóc con. Như vậy, cả hai đều cùng gánh vác. Có thể sự gánh vác chưa phải là cân bằng, nhưng vẫn có sự sẻ chia.

Nếu một mình lo: Để con xem TV 15 phút (không sao đâu!), mình ngồi uống trà hoặc nằm nghỉ. Con an toàn, mình cần nghỉ. Đừng tự trách mình nhé. Đôi khi đi bộ lâu cũng cần ngồi nghỉ chân một chút, rồi lại đứng lên đi tiếp. Bạn đang nghỉ ngơi, chứ không phải là bỏ cuộc.

Nếu có nhiều con: Nhờ con lớn giúp trông con nhỏ một lúc. Nhất là những lúc cần phải làm việc riêng (như đi tắm, hoặc tranh thủ làm một việc nào đó). Sau đó, cảm ơn con lớn vì việc con làm rất có ích với mình, mình cảm thấy được san sẻ và đỡ đần. Mình tin rằng, các bạn nhỏ đều muốn giúp đỡ, đều muốn mình có ý nghĩa với gia đình. Bạn hãy chọn cách nói phù hợp, tránh cho các con cảm thấy bị áp đặt. Hãy chọn cách nói để khơi gợi lòng trắc ẩn của các con. Như là: mẹ cảm thấy mệt quá vì hôm nay nhiều việc hơn mọi hôm, con có thể giúp mẹ trông em trong 20 phút được không?

Khi nào cần tìm hỗ trợ

Nếu bạn thấy mình mất ngủ liên tục, cáu gắt với con thường xuyên, hay cảm thấy tuyệt vọng - đó là lúc cần tìm ai đó nói chuyện. Có thể là bạn bè, người thân, hoặc chuyên gia.

Tìm hỗ trợ là thông minh, không phải yếu đuối đâu các bạn. Ở Việt Nam mình có xu hướng "tự lo liệu", nhưng có lúc cần người khác giúp mới qua được giai đoạn khó.

Cuối cùng thì…

Bạn hãy thử chọn 1-2 cách mà mình thấy dễ làm nhất, phù hợp với mình nhất để chăm sóc bản thân nhé. Bạn hãy tin rằng, khi mình khỏe, con cũng cảm nhận được năng lượng tích cực từ mình. Đó cũng là một cách yêu thương con đấy. Chăm sóc bản thân không phải ích kỷ, mà là để mình có đủ sức và bền bỉ trên hành trình cùng con.Bạn cũng xứng đáng được yêu thương và chăm sóc - đừng quên bản thân nha.

Trên đây chỉ là góc nhìn của bản thân mình, nó có thể hợp với bạn, hoặc không phù hợp vì mỗi người một hoàn cảnh và lựa chọn riêng. Nếu bạn có cách của riêng mình rồi, thì tuyệt quá. Mình mong bạn luôn bình an và vui vẻ bên con. Hãy chia sẻ với mình cách của bạn nếu không ngại nhé.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 1 trong 5Series: Chuỗi bài về chỉ tay · Part 1 of 5

Tại sao chương trình của con lại có “dạy chỉ tay”?

Tuần trước, có một mẹ hỏi mình: "Cô ơi, con em can thiệp được 4 tháng rồi mà vẫn chưa biết chỉ tay. Thầy cô bảo phải dạy chỉ tay vì nó trong chương trình của con. Vậy tại sao phải dạy chỉ tay ạ?"

Nhiều phụ huynh cũng thắc mắc tương tự. Để mình giải thích tại sao chỉ tay lại được coi trọng đến vậy.

Hầu hết chúng ta nghĩ chỉ tay chỉ đơn giản là chỉ về phía một vật gì đó. Nhưng thực tế, chỉ tay mang những mục đích khác nhau:

Chỉ tay để YÊU CẦU (xuất hiện tầm 9-10 tháng tuổi)

Khi con chỉ vào hộp bánh quy trên kệ cao, con đang nói: "Mẹ ơi, con muốn cái đó!" Đây là cách trẻ thể hiện nhu cầu của mình-muốn có được thứ gì đó.

Chỉ tay để CHIA SẺ (xuất hiện tầm 12 tháng tuổi)

Khi con chỉ một chiếc chong chóng nhiều màu sắc đang quay và nhìn vào mắt mẹ, con đang nói: "Mẹ ơi, nhìn kìa! Hay quá phải không!" Trong tình huống này, con muốn chia sẻ niềm vui, sự thích thú với mẹ. Đây là loại chỉ tay khó hơn bởi vì để có thể chỉ tay vào chiếc chong chóng đó, con phải có sự yêu thích với nó, sau đó là muốn khoe với mẹ, chia sẻ với mẹ niềm vui này.

Chỉ tay để TRẢ LỜI một yêu cầu hoặc một câu hỏi (xuất hiện muộn hơn)

Khi mẹ hỏi "Giày của con đâu?" và con chỉ vào góc phòng, con đang cung cấp thông tin cho mẹ. Để làm được việc này, con cần hiểu câu hỏi của mẹ.

Các nghiên cứu cho thấy những mục đích khác nhau này phản ánh các khả năng giao tiếp quan trọng, và chúng dự báo sự phát triển ngôn ngữ sau này của một đứa trẻ. Chính bởi vậy, các công cụ đánh giá và các chương trình can thiệp dành cho trẻ sẽ có phần kiểm tra kỹ năng chỉ tay này.

Vậy bây giờ sẽ nói về trẻ tự kỷ và 3 mục đích của việc chỉ tay, cái nào khó, cái nào dễ dạy hơn.

Thực tế qua kinh nghiệm của bản thân mình, thì dạy trẻ chỉ tay để yêu cầu (lấy, xin, muốn) một thứ gì đó là dễ thực hiện hơn so với hai mục đích kia (để chia sẻ và trả lời câu hỏi).

Vì sao lại như vậy?

Bạn biết đó, trẻ tự kỷ thường có khó khăn về giao tiếp xã hội. Sở thích của một số trẻ rất hạn hẹp (từ đồ ăn, đồ chơi, đồ dùng) cho đến nhu cầu và kỹ năng chia sẻ còn nhiều hạn chế, do đó nhiều khi dạy trẻ tự kỷ nhìn theo tay của chúng ta chỉ về một đồ vật thì dễ, còn việc dạy để con có nhu cầu muốn khoe một vật thú vị, thì thường rất rất khó, bởi vì động lực ở đâu để có thể thực hiện những kỹ năng này nếu con chẳng có hứng thú gì với thứ đó, phải không nào.

Giờ bạn đã hiểu tại sao chỉ tay xuất hiện trong chương trình của con rồi! Nó không chỉ là một động tác đơn giản, mà phản ánh 3 khả năng giao tiếp quan trọng. Do vậy, khi dạy trẻ chỉ tay, bạn hãy thử xem, con của mình đang học chỉ tay để làm gì, và mong muốn con có thể chỉ tay vào các mục đích nào nhé.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 2 trong 5Series: Chuỗi bài về chỉ tay · Part 2 of 5

Chỉ tay có phải cách duy nhất để con yêu cầu và chia sẻ?

Sau khi đọc bài về 3 mục đích của chỉ tay, một mẹ nhắn tin hỏi mình: "Cô ơi, con em không chỉ tay nhưng hay kéo tay em đi lấy đồ. Vậy con em có đang giao tiếp không ạ? Hay chỉ có chỉ tay mới tính?"

Mình trả lời ngay: "Tất nhiên là bé đang giao tiếp! Chỉ tay không phải là cách duy nhất."

Để lấy một đồ vật, trẻ có thể thể yêu cầu bằng nhiều cách khác nhau và việc này cũng tương tự với chia sẻ niềm vui vậy. Mình sẽ viết cụ thể ở bên dưới, và chia bài thành 2 phần: phần : các cách chỉ tay để yêu cầu, phần : các cách để chia sẻ niềm vui, hứng thú

Nếu bạn nào chưa đọc bài số 1 “vì sao chương trình của con lại có “dạy chỉ tay” thì bạn hãy đọc để có kết nối hơn với bài này nhé.

Phần : Có phải chỉ tay bằng ngón trỏ là cách duy nhất để yêu cầu?-Trả lời: Không. Vì trẻ có thể làm bằng các cách sau

Kéo tay người lớn (Hand-leading): Thay vì chỉ vào hộp bánh trên kệ cao, con sẽ kéo tay mẹ đến tận chỗ bánh. Con đang nói rõ ràng: "Mẹ ơi, con muốn cái này!" - hiệu quả 100%.

Nhìn qua nhìn lại (Gaze shifting): Con nhìn đồ vật, rồi nhìn mẹ, rồi lại nhìn đồ vật. Con đang "chỉ bằng mắt" - thể hiện mong muốn rất tinh tế.

Mang đồ vật đến: Con lấy hộp bánh kẹo đưa cho mẹ.

Đặt đồ vật vào tay người lớn: Con đưa cả chai nước cho mẹ khi muốn uống, rất rõ ràng và hiệu quả.

Đứng gần và phát ra âm thanh: Con đứng sát tủ lạnh, nhìn mẹ và tạo âm "Ơ ơ". Con đang kết hợp vị trí cơ thể và âm thanh để thể hiện nhu cầu.

Tất cả những cách này đều là cách giao tiếp chức năng hiệu quả, giúp trẻ đạt được điều con muốn ngay lập tức.

Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là: nếu các cách này đều hiệu quả, thì tại sao phải dạy chỉ tay. Mình phân tích thêm ở dưới này nhé.

Thứ nhất, chúng hiệu quả nhưng lại có một số hạn chế nhất định, như:

Hạn chế về khoảng cách: Kéo tay và đặt đồ vật vào tay đều yêu cầu con phải ở gần người lớn. Khi con ở xa - trong lớp học, sân chơi, hay thậm chí chỉ ở đầu bên kia phòng - những cách này trở nên không khả thi.

Hạn chế về tình huống: Khi người lớn đang bận (nấu ăn, lái xe, nói chuyện điện thoại), việc kéo tay có thể không an toàn hoặc không phù hợp.

Hạn chế về độc lập: Những cách này thường đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của người lớn, điều này có thể hạn chế sự tự lập của con trong việc giao tiếp.

Hạn chế trong môi trường xã hội: Trong lớp học với nhiều trẻ, việc kéo tay cô giáo có thể không khả thi khi cô đang giảng bài cho cả lớp.

Thứ hai, chỉ tay vẫn cần dạy vì nó có một ưu thế đặc biệt, đầu tiên là câu chuyện khoa học về chỉ tay,

Nghiên cứu của Özçalışkan và cộng sự (2016) cho thấy rằng "early deictic but not other gestures predict later vocabulary" - chỉ có chỉ tay (deictic gestures) chứ không phải các cử chỉ khác có thể dự đoán sự phát triển từ vựng của trẻ tự kỷ một năm sau đó. Nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng chỉ có chỉ tay ở xa (distal pointing) mới có mối liên hệ mật thiết với việc phát triển ngôn ngữ.

Sau đó, là những lợi ích của nó, như là:

Phát triển khái niệm trừu tượng: Khi con chỉ vào thứ ở xa, con đang học rằng giao tiếp có thể về những thứ không cần chạm vào.

Mở rộng phạm vi giao tiếp: Thay vì chỉ có thể "yêu cầu" những thứ trong tầm tay, con học được cách "tham chiếu" đến toàn bộ thế giới xung quanh. Điều này mở ra vô số cơ hội học từ vựng mới.

Độc lập trong giao tiếp: Con có thể thu hút sự chú ý của người lớn và truyền đạt thông điệp từ bất kỳ khoảng cách nào, không cần phải đến gần hay kéo tay.

Chuẩn bị cho ngôn ngữ: Giống như ngôn ngữ, chỉ tay ở xa giúp con học cách "nói" về những thứ không cần chạm vào - từ máy bay trên trời đến đồ chơi trên kệ cao. Đây là kỹ năng quan trọng cho việc sử dụng từ ngữ để chỉ những vật thể ở xa trong không gian.

Do vậy, những cách con đang dùng (kéo tay, đặt đồ vật vào tay bạn, tạo âm…) có giá trị cho việc giao tiếp ngay lập tức và nên được ghi nhận, đó cũng là giao tiếp có chức năng. Tuy nhiên, nếu bạn biết việc sử dụng ngón trỏ để chỉ có giá trị như vậy, hãy khuyến khích và thử dạy cho con xem nhé.

Phần : Vậy còn vấn đề chỉ tay để chia sẻ sự quan tâm, hứng thú, niềm vui thì sao, có phải là cách duy nhất không? Trả lời: Tất nhiên là không. Để thể chia sẻ những điều thú vị trên, trẻ có thể biểu hiện:

Ánh mắt sáng lên: Khi thấy chiếc chong chóng quay, mắt con sáng lên và nhìn về phía mẹ. Con đang "khoe" bằng ánh mắt: "Mẹ ơi, con thấy cái này hay lắm!"

Biểu cảm khuôn mặt rạng rỡ: Con cười toe toét khi nghe nhạc yêu thích, mắt long lanh khi thấy bong bóng bay. Khuôn mặt con đang "nói" rất nhiều về niềm vui.

Cử động toàn thân: Con nhún nhảy khi thấy máy bay bay qua, vỗ tay khi thấy hoa đẹp. Con đang chia sẻ bằng cả cơ thể.

Mang đồ đến "khoe": Con ôm con búp bê đẹp đến trước mặt mẹ, muốn mẹ cùng chơi.

Mình muốn khẳng định với bạn là, đối với việc chia sẻ niềm vui, thì tất cả những cách này đều có giá trị như nhau! Không cách nào "tốt hơn" cách nào.

Bạn có nhớ, bài trước mình nói rằng chỉ tay có mục đích để chia sẻ những vui thích xã hội, và việc dạy chỉ tay cho mục đích này khá là khó đối với trẻ tự kỷ.

Đến hôm nay, bạn biết rằng có những ngôn ngữ của cơ thể như mình liệt kê ở trên, cũng có giá trị về kết nối xã hội, và chúng không phân cao thấp, chúng cũng không thể hiện dáng điệu nào sẽ có lợi thế hơn. Mà có lẽ tốt nhất, khi học về biểu cảm xã hội, nên là biết cách thể hiện một cách đa dạng. Do vậy, về phương diện giao tiếp xã hội và cảm xúc, chỉ tay có thể được thay thế bằng những hành động, cử chỉ khác.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 3 trong 5Series: Chuỗi bài về chỉ tay · Part 3 of 5

Con đã sẵn sàng học chỉ tay chưa?

Mình nhận thấy nhiều cha mẹ có xu hướng nghĩ rằng tất cả trẻ đều có thể học chỉ tay theo cùng một cách. Thực tế, mỗi con có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến khả năng này.

Hôm nay mình sẽ giúp mọi người cách đánh giá xem con có sẵn sàng học chỉ tay hay không, và hiểu rõ những yếu tố có thể tạo ra thách thức riêng cho từng con.

Nếu bạn nào chưa đọc bài số 1 và 2 thì hãy đọc để có kết nối tốt hơn với bài này nha.

Bây giờ, chúng ta hãy xem con có 2 nền tảng sau đây để bắt đầu học chỉ tay chưa nhé.

"Con có thể chỉ bằng một ngón dễ dàng không?"

Bạn hãy thử quan sát xem con đang dùng cả bàn tay hay sử dụng một ngón tay để chỉ một vật. Hãy xem con có khó tách ngón trỏ ra khỏi các ngón khác để tạo thành một cử chỉ hay không. Để quan sát, bạn có thể thử vài hoạt động sau:

  • Chọc lỗ nhỏ trên giấy
  • Nhấn nút thang máy
  • Chạm vào màn hình điện thoại
  • Chỉ vào tranh trong sách

Nếu con gặp khó khăn: mình chia sẻ với mọi người về một số đặc điểm về vận động và giác quan có thể ảnh hưởng tới kỹ năng chỉ tay của con, mọi người hãy để ý để giúp con nhé.

Con quá nhạy cảm:

  • Sợ âm thanh to, ánh sáng mạnh, hoặc đám đông
  • Tránh xa một số kết cấu, vị hoặc mùi
  • Việc này dẫn đến con có thể không chú ý đến những gì mẹ muốn con chỉ vì đang bị quá tải bởi môi trường

Con tìm kiếm cảm giác:

  • Thích xoay tròn, nhảy, va đập
  • Chỉ tay vào những thứ tạo cảm giác (đèn nhấp nháy, quạt quay) thay vì những thứ có chức năng thực tế
  • Do vậy, cử chỉ chỉ tay có thể khiến con mất cân bằng cảm giác nếu con đang cần kích thích thị giác.

Đặc điểm thị giác

Vấn đề về thị lực:

  • Thị lực kém hoặc mù
  • Rối loạn thị giác do não
  • Không thấy vật thể để chỉ
  • Không thể follow tay chỉ của người khác
  • Định hướng không gian khó khăn

Đặc điểm vận động

Khó khăn về trương lực cơ:

  • Cơ bắp quá cứng hoặc quá mềm
  • Không thể tách ngón trỏ riêng biệt
  • Khó giữ tay ổn định khi chỉ

Vấn đề lên kế hoạch vận động:

  • Biết muốn làm gì nhưng cơ thể không theo ý
  • Có thể có run tay hoặc chuyển động không kiểm soát được

Đặc điểm nhận thức

Chậm phát triển:

  • Không hiểu mục đích của việc chỉ tay
  • Không kết nối giữa cử chỉ và kết quả
  • Quên nhanh những gì đã học
  • Khả năng tập trung ngắn

Nếu bạn đã từng mang con đi đánh giá tổng thể, hẳn là sẽ được giải thích về các đặc điểm này của con. Còn nếu bạn chưa bao giờ đưa con đi đánh giá, thì thử quan sát thật kỹ, sau đó thử trao đổi với một nhà chuyên môn tin cậy để được giúp đỡ nhé.

"Con có động lực muốn những thứ từ môi trường xung quanh, hoặc từ chúng ta không?"

Nhớ lại bài số 1 - mục đích của chỉ tay có thể là:

Con có động lực muốn những thứ ở xa.

  • Con có những thứ rõ ràng muốn có? (đồ ăn trên kệ cao, đồ chơi ngoài tầm với)
  • Con có tỏ ra khó chịu hoặc muốn được giúp để lấy những thứ ở ngoài tầm với không?
  • Con có cố gắng cho mẹ biết con muốn những thứ ở xa không?

Con có muốn chia sẻ những thứ thú vị với mẹ không?

  • Con có những thứ làm con thích thú, háo hức? (máy bay bay qua, đèn nhấp nháy)
  • Con có tìm mẹ khi thấy điều gì đó hay ho ở xa không?
  • Con có muốn mẹ cùng xem những gì con đang thấy thích thú không?

Nếu con chưa có động lực rõ ràng:

Bước 1: Tìm hiểu con thích gì

  • Quan sát con trong 1 tuần: Con dừng lại nhìn gì? Con lặp lại hoạt động nào?
  • Có thể là âm thanh (quạt kêu, nhạc), ánh sáng (đèn nhấp nháy), chuyển động (xe chạy, nước chảy)

Bước 2: Làm cho sở thích đó thú vị hơn

Ví dụ:

  • Nếu con thích quạt quay: Đặt nhiều quạt nhỏ khác nhau, bật tắt bất ngờ, thêm ruy băng bay theo gió
  • Nếu con thích ánh sáng: Dùng đèn pin chiếu lên trần, đèn LED đổi màu, bong bóng phản chiếu ánh sáng
  • Nếu con thích nước: Thêm màu vào nước, tạo bọt xà phòng, dùng ống nhỏ giọt

Mục đích của việc này là, biến những thứ con thích trở nên "wow" hơn, từ đó, tạo cho con cảm giác muốn nhìn mẹ để "khoe": "Mẹ ơi, nhìn kìa!" - đây chính là bước đầu của việc muốn chia sẻ.

Tóm lại, khi dạy chỉ tay, bạn hãy nhớ

Mỗi con đều đặc biệt riêng - không có cách tiếp cận chung cho tất cả, do vậy cách dạy của một cha mẹ/một cô giáo khác có thể phù hợp với trẻ của họ, bạn nên đánh giá năng lực của bé của mình và lựa chọn cách phù hợp nhé.

Dạy chỉ tay không phải cứ làm mẫu, ép trẻ, hỗ trợ là trẻ có thể làm được ngay, cần thời gian bạn nhé. Nhất là những bạn có nhiều khó khăn phức tạp cùng một lúc như: giác quan, nhận thức, vận động và năng lực hiểu ngôn ngữ hạn chế. Nếu bạn dạy mãi mà chưa hiệu quả, hãy tìm nhà chuyên môn tốt nhé.

Điều cuối cùng mình muốn nhắn cho bạn, chỉ tay không phải mục tiêu duy nhất - giao tiếp là mục tiêu lớn hơn, do vậy bài viết sau, bạn hãy đón đọc để nhìn được giao tiếp rộng lớn thế nào và vượt khỏi nỗi lo, nếu không dạy được kỹ năng này thì sao nhé.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 4 trong 5Series: Chuỗi bài về chỉ tay · Part 4 of 5

Chỉ tay: một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh giao tiếp lớn

Sau 3 bài viết về chỉ tay, mình nhận được nhiều câu hỏi: "Cô ơi, vậy cuối cùng con em có cần phải học chỉ tay không?", "Con em giao tiếp bằng cách khác rất tốt, có cần ép học chỉ tay không?"

Hôm nay, chúng ta sẽ "zoom out" để nhìn chỉ tay trong bức tranh giao tiếp tổng thể, giúp cha mẹ thay đổi cách nhìn từ "con có biết chỉ tay không?" sang "con có giao tiếp hiệu quả không?"

Nếu bạn nào chưa đọc các bài trước thì hãy đọc để hiểu rõ series này nhé.

Những gì chúng ta đã học qua 3 bài

Bài 1 - "Tại sao dạy chỉ tay?" Chỉ tay có 3 mục đích chính: yêu cầu (9-10 tháng), chia sẻ (12+ tháng), và trả lời câu hỏi. Với trẻ tự kỷ, dạy chỉ tay để yêu cầu dễ hơn chỉ tay để chia sẻ vì vấn đề về động lực xã hội.

Bài 2 - "Có những cách nào khác?" Con có thể thể hiện cùng một ý định bằng nhiều cách: kéo tay, nhìn luân phiên, đưa đồ vật. Tuy nhiên, chỉ tay ở xa có giá trị đặc biệt cho phát triển ngôn ngữ dựa trên bằng chứng nghiên cứu.

Bài 3 - "Con có sẵn sàng chưa?" Mỗi con có đặc điểm riêng về vận động, giác quan, nhận thức. Những đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng học chỉ tay và cách tiếp cận phù hợp cho từng con.

Câu hỏi lớn: Làm sao để có cái nhìn tổng thể và quyết định ưu tiên gì cho con mình?

Bạn hãy đọc kỹ, và chậm thôi những phần ở dưới này nhé. Mình sẽ chọn cách viết gạch đầu dòng vào ý chính, để bạn dễ theo dõi.

Chỉ tay - Một diễn viên trong dàn nhạc giao tiếp

Chỉ tay là một "hành vi giao tiếp"

Khi con chỉ tay, đó là một hành vi - một cử chỉ cụ thể mà chúng ta có thể quan sát được.

Nhưng hành vi giao tiếp không chỉ có chỉ tay. Còn có:

  • Kéo tay người lớn
  • Nhìn luân phiên giữa vật và người
  • Đưa đồ vật cho người khác
  • Phát ra âm thanh
  • Biểu hiện cảm xúc qua khuôn mặt
  • Cử động cơ thể

Tất cả đều nằm trong "phổ giao tiếp" rộng lớn

Ví dụ thực tế: Bé Linh 3 tuổi muốn bình nước trên kệ cao. Bé có thể:

  • Chỉ tay lên bình nước
  • Kéo tay mẹ đến tủ bếp
  • Mang ghế đến để trèo lên
  • Kêu "ư ư" và nhìn lên kệ
  • Khóc và đứng dưới kệ

Tất cả đều là hành vi giao tiếp hợp lệ!

Mối quan hệ giữa "chức năng" và "hành vi”.

Đoạn này, bạn hãy tạm hiểu hành vi giao tiếp là cách mà con thể hiện điều mình muốn, còn chức năng giao tiếp là mục đích của con khi giao tiếp với người khác nhé. Mình muốn bạn hãy đọc thật kỹ phần dưới đây để hiểu hơn về mối liên hệ giữa hai khái niệm này.

Một hành vi - Nhiều chức năng

Cùng một cử chỉ chỉ tay có thể có nhiều mục đích:

Khi chỉ vào cùng một chiếc bánh, trẻ có thể có những mục đích sau:

  • Chức năng 1 (Yêu cầu): "Mẹ ơi, con muốn ăn bánh!"
  • Chức năng 2 (Chia sẻ): "Mẹ ơi, nhìn cái bánh đẹp kìa!"
  • Chức năng 3 (Trả lời): Mẹ hỏi "Bánh ở đâu?" → Con chỉ

Ý nghĩa của ví dụ trên là: Cùng một hành vi nhưng mục đích giao tiếp hoàn toàn khác nhau.

Một chức năng - Nhiều hành vi

Cùng một mục đích có thể thể hiện bằng nhiều cách:

Muốn xin bánh (cùng một chức năng), lại có nhiều cách để thực hiện, như là:

  • Cách 1: Chỉ tay vào bánh
  • Cách 2: Kéo tay mẹ đến bánh
  • Cách 3: Đưa hộp bánh cho mẹ
  • Cách 4: Nói "bánh"
  • Cách 5: Khóc và nhìn bánh

Ý nghĩa của ví dụ này là: Con đạt được cùng một mục tiêu bằng nhiều "con đường" khác nhau.

Khi đọc đến đoạn này, bạn hãy lưu ý rằng, chức năng giao tiếp như là động cơ của chiếc xe, có động cơ thì chiếc xe có thể vận hành được. Còn hành vi giao tiếp như là nhiên liệu của xe. Mỗi một chiếc xe có thể hoạt động hiệu quả được thì cần cả nhiên liệu và động cơ, phải không nào…

Do đó, khi dạy trẻ giao tiếp người ta thường sẽ bổ trợ cho trẻ những cách thức (hành vi) giao tiếp khác nhau, đồng thời dạy thêm cả những mục đích (chức năng) giao tiếp mới. Có như vậy, xe mới có thể chạy xa, bền bỉ và chạy được trong nhiều môi trường, hoàn cảnh. Vậy trẻ của bạn đang cần tập trung vào động cơ, hay là tập trung để nạp nhiên liệu, hay cả hai? Hãy cho mình biết nhé.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 5 trong 5Series: Chuỗi bài về chỉ tay · Part 5 of 5

Bản đồ phát triển giao tiếp: con mình đang ở đâu?

Bài trước, chúng ta đã hiểu được chỉ tay chỉ là một trong nhiều hành vi giao tiếp, và chúng ta đã được hỏi: con của bạn cần dạy về các hành vi giao tiếp, chức năng giao tiếp hay cả hai?

Nếu bạn bỏ lỡ 4 bài trước trong guide này, hãy tìm đọc nha

Giờ đây, chúng ta sẽ đặt chỉ tay vào bản đồ giao tiếp - một công cụ giúp chúng ta nhìn thấy toàn bộ hành trình phát triển giao tiếp của con từ khi sinh ra đến khi có ngôn ngữ phức tạp. Công cụ này gọi là Ma trận giao tiếp. Ma trận giao tiếp (Communication Matrix) là công cụ do Charity Rowland phát triển để đánh giá giao tiếp ở trẻ chưa nói được. Nó chia phát triển giao tiếp thành 7 cấp độ rõ ràng.

Ma trận giao tiếp sẽ giúp:

  • Xác định con đang ở giai đoạn nào trong hành trình phát triển
  • Hiểu được chỉ tay xuất hiện ở mốc nào trên bản đồ này
  • Có kỳ vọng và chiến lược phù hợp với giai đoạn của con

7 cấp độ phát triển giao tiếp:

Cấp độ 1: Hành vi phản xạ

  • Con khóc khi đói, cười khi vui
  • Chưa có ý thức giao tiếp

Cấp độ 2: Hành vi có mục đích chung

  • Con kéo áo mẹ, đẩy tay mẹ
  • Bắt đầu có ý thức tác động lên người khác

Cấp độ 3: Giao tiếp phi chính quy

  • Con kéo tay mẹ đến tủ lạnh, nhìn luân phiên
  • Có ý định giao tiếp rõ ràng nhưng chưa dùng "ký hiệu" chính quy

↑ Chỉ tay thường xuất hiện ở cấp độ 3-4 ↑

Cấp độ 4: Giao tiếp bằng cử chỉ chính quy

  • Con chỉ tay, vẫy tay, gật đầu
  • Bắt đầu dùng các "ký hiệu" mà xã hội thừa nhận

Cấp độ 5: Giao tiếp bằng ký hiệu trừu tượng

  • Con dùng hình ảnh, ngôn ngữ ký hiệu, hoặc từ ngữ đơn lẻ
  • Hiểu rằng "ký hiệu" có thể đại diện cho sự vật

Cấp độ 6-7: Ngôn ngữ phức tạp

  • Con nói câu, có ngữ pháp, diễn đạt ý tưởng phức tạp

Xác định con đang ở cấp độ nào:

Cấp độ 1-2: Con chưa có ý định giao tiếp rõ ràng

  • Tập trung: Tương tác cơ bản, respond to con's needs
  • Chưa cần dạy chỉ tay - chưa đến lúc

Cấp độ 3: Con đã có ý định giao tiếp nhưng phi chính quy

  • Con đã sẵn sàng học chỉ tay! Đây là thời điểm tốt.
  • Chiến lược: Dạy chỉ tay để "nâng cấp" từ kéo tay thành cử chỉ chính quy
  • Đầu tư vào chỉ tay có giá trị cao nhất

Cấp độ 4: Con đã có một số cử chỉ chính quy

  • Chiến lược: Mở rộng "vốn từ vựng" cử chỉ
  • Không cần ép chỉ tay nếu con đã giao tiếp hiệu quả

Cấp độ 5+: Con có ngôn ngữ hoặc ký hiệu trừu tượng

  • Chỉ tay không còn là ưu tiên
  • Tập trung: Phát triển ngôn ngữ phức tạp hơn

Ví dụ thực tế:

Bé An (2.5 tuổi) - Cấp độ 3:

  • Kéo tay mẹ đến tủ lạnh khi khát
  • Nhìn luân phiên giữa đồ chơi và mẹ khi muốn chơi

Đây là thời điểm tuyệt vời để dạy chỉ tay!

Bé Minh (3 tuổi) - Cấp độ 4:

  • Đã biết chỉ tay, vẫy tay, gật đầu
  • Giao tiếp hiệu quả với gia đình
  • → Không cần lo lắng về chỉ tay, tập trung vào mở rộng kỹ năng

Nếu bạn gặp khó khăn để xác định mức độ của con, hãy nhờ một nhà chuyên môn có kinh nghiệm hỗ trợ bạn nhé.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles

Cường độ can thiệp: bao nhiêu giờ một tuần là đủ?

Mặc dù tiêu chí chẩn đoán tự kỷ đã thay đổi nhưng những nghiên cứu về cường độ can thiệp vẫn còn có ý nghĩa. Ở đây mình giữ nguyên tiếng Anh mà không chuyển việc phân loại tự kỷ theo tiếng Việt, vì việc chuyển ngữ không dễ dàng và dễ gây tranh luận. Nếu học sinh của bạn hoặc con của bạn được chẩn đoán có rối loạn phát triển, bạn hãy hỏi xem mức độ của con như thế nào, từ đó hãy tìm cách tiếp cận, chương trình và phương pháp phù hợp nhé. Hiện tại trong tiêu chí chẩn đoán mới thì tự kỷ được chia thành 3 cấp độ, tạm hiểu là nhẹ-vừa-nặng. Nhưng trong bài viết này, mình phân tích dựa trên tài liệu về các phương pháp tiếp cận dành cho tự kỷ, được tác giả viết trước giai đoạn tiêu chí chẩn đoán thay đổi năm 2013 nên bạn sẽ thấy có nhiều đối tượng được xếp ở cột dọc của biểu đồ.

1) Mức độ khó khăn của trẻ là cột dọc: Tự kỷ ở dạng phức tạp (complex autism) là nhóm khó khăn nhất. Những bé ở mức độ này có thể ngoài những khó khăn cốt lõi của tự kỷ thì còn những khó khăn khác đi kèm, như có những rối loạn giác quan nặng, rối loạn giấc ngủ, đường ruột, khuyết tật trí tuệ…. Những bé có khó khăn này thì cần thời lượng trị liệu nhiều hơn cả, và khả năng phát triển tiệm cận với vùng phát triển thông thường của trẻ em là xa. Thông thường, các em sẽ cần đến 30-40h can thiệp một tuần.

  1. Đối với các em ở mức Essential Autism (tạm dịch là có đầy đủ khó khăn cốt lõi, điển hình của tự kỷ) thì cũng cần có can thiệp từ 16-19h/tuần. Công thức dạy cho các em theo phương pháp tổng hợp là 75% học tập theo cấu trúc, dạy theo DTT và sau đó 25% học theo phương pháp tiếp cận tự nhiên.
  2. Các đối tượng còn lại thì cường độ can thiệp dần dần giảm xuống còn 10-15h/tuần, 6-9h/tuần

Một số thông tin nữa về cường độ can thiệp mình muốn chia sẻ thêm là

  • Thời lượng: 25-30 h/tuần, can thiệp 1-1 trong 1-2 năm đầu là bắt buộc để có được những cải thiện về những khiếm khuyết cốt lõi của tự kỷ. (Lord & McGee, 2001)

Một số cha mẹ thích bắt đầu bằng 10-20 h trị liệu/tuần sau đó tăng dần thời lượng sau khi trẻ có được những thành tựu được cho là hướng đi không phù hợp. Một yếu tố cực kỳ quan trọng cần ghim trong đầu là những kỹ năng nhận thức, ngôn ngữ, kỹ năng xã hội chủ chốt được phát triển trong 18 tháng can thiệp đầu tiên. Việc tăng cường thời gian can thiệp sau 1-2 năm không thể bù lại được với tốc độ học và sự phát triển của não bộ trong những giai đoạn trước đó.

  • Không phải chỉ có ABA mới tăng cường, ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng các phương pháp can thiệp khác cũng cần rất nhiều thời gian đầu tư cho nó. Dưới đây là ví dụ về thời lượng của các chương trình khác nhau.
  • ABA:
  • Thấp: 15 h/tuần
  • Ít nhất: 30-35h/tuần
  • RDI: huấn luyện 2lần/tuần, mỗi lần vài giờ
  • PRT và Floortime: 25h/tuần
  • TEACCH: 6h/ngày
  • SCERTS: 6h/ngày
  • Nghiên cứu của hội đồng Quốc gia 2001 tại Mỹ trả lời thế nào là can thiệp tăng cường và toàn diện
  1. Can thiệp sớm 1,5-5 năm tuổi
  2. 25h/tuần can thiệp trực tiếp
  3. Có tính tương tác
  4. Cá nhân hoá (1:1 hoặc 1:2)
  5. Toàn diện (bao gồm hết những kỹ năng thiếu hụt ngôn ngữ, kỹ năng xã hội, giác quan)
  6. Có chiến lược

Mục tiêu cuối cùng: Trẻ phải tự lập và có phản hồi mang tính xã hội.

=> Do đó, không phải trẻ em tự kỷ nào cũng phù hợp với mô hình can thiệp 1-1 hay 1 h/ngày. Để biết được con cần can thiệp bao nhiêu h/tuần. Các cô giáo cần quan sát các con thật kỹ, có bảng hỏi cụ thể để tìm ra các chỉ số can thiệp cần thiết cho con. Còn các ba mẹ, chắc chắn cần người có chuyên môn tốt để tư vấn chương trình.

Một số người hiểu nhầm rằng chỉ cần can thiệp đủ giờ là đủ, nên việc gửi con ở một vài chương trình, trong đó con được giữ cả ngày nhưng chỉ có 1h/ngày can thiệp cá nhân chẳng hạn. Thì thời lượng này chưa đảm bảo chất lượng của tăng cường nhà các mẹ và các cô. Một chương trình phải đảm bảo đủ giờ và can thiệp đủ chất, đủ nhiều, đủ độ và phù hợp với con về phương pháp tiếp cận mới được gọi là chương trình can thiệp tăng cường hiệu quả. ở Việt nam thì việc đảm bảo đầy đủ tất cả các yếu tố trên là thách thức, thêm vào đó, không phải cha mẹ nào cũng có khả năng chi trả cho 30h can thiệp cá nhân/tuần. Do đó, việc thiết kế một chương trình can thiệp phù hợp là cần thiết cho mỗi trung tâm của chúng ta. Bên cạnh đó, hướng dẫn, huấn luyện và hỗ trợ phụ huynh chính là phương thức tiết kiệm, hiệu quả và lâu bền nhất vì những kỹ năng can thiệp họ có thể làm được, chỉ cần họ kiên trì. Do vậy, một chương trình can thiệp tốt, sẽ được đánh giá về cấp độ chương trình đó hỗ trợ phụ huynh được đến như thế nào.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles

Tám hệ giác quan của con

Thị giác

Hệ thị giác là nơi chúng ta tiếp nhận và và xử lý những thông tin thông qua mắt. Chúng ta có thể nhìn vào một vật là nhờ ánh sáng. Các tia sáng đi vào trong mắt của chúng ta theo các con đường khác nhau dựa vào cấu trúc của mắt, cuối cùng, hình ảnh của vật thể được thể hiện trong vùng não chịu trách nhiệm về thị giác. Ở đây, não xác định đó là đồ vật gì và ý nghĩa của nó. Chúng ta có khả năng nhận thức về các chi tiết như màu sắc, không gian 3 chiều, chiều sâu và vị trí của đồ vật trong không gian.

Có những trẻ sẽ rất nhạy cảm về thị giác như không thích, lảng tránh ánh sáng mặt trời hoặc đèn sáng, không thích những nơi có quá nhiều ánh sáng như của hàng, sân chơi.. Hay là thích ánh sáng mờ, bóng râm... Bên cạnh đó lại có những bạn lại đi tìm kiếm cảm giác thị giác : thích những đồ vật sáng bóng hoặc di chuyển, thích những chương trình hành động, giải trí trên tivi hoặc là những trò chơi điện tử. Những bạn này thường sẽ gặp khó khăn trong việc phối hợp tay mắt ( các hoạt động bắt bóng, xâu hạt, viết, tô màu…) khó khăn trong việc phân biệt giữa từ ngữ và hình dạng gần giống nhau, khó khăn trong việc đọc, có thể bị mất dòng khi đọc.

Việc bạn xác định được ngưỡng thị giác của con sẽ giúp ích rất nhiều trong hoạt động vui chơi cũng như học tập của trẻ. Ví dụ nếu con bạn nhạy cảm về thị giác thì bạn cần phải có những lựa chọn màu sắc phù hợp (màu xanh lá, xanh lam... là những màu sắc tốt cho mắt tuy nhiên hãy lựa chọn màu sắc con bạn thấy dễ chịu). Bên cạnh đó nếu đứa trẻ có vẻ như luôn tìm cảm giác kích thích thị giác hãy thêm các vật thể có màu sắc rực rỡ để khuyến khích sự chú ý trực quan. Ví dụ, một đứa trẻ gặp khó khăn khi khi đọc bạn có thể dùng những màu sắc nổi bật hơn cho chữ để trẻ có thể dễ nhìn thấy hoặc khi trẻ không thể xem một quả bóng khi nó lăn thì bạn làm cách nào đó cho quả bóng sáng lên như vậy sẽ giúp cho thị giác của trẻ rất nhiều.

Việc trẻ gặp rối loạn giác quan thị giác đôi khi làm ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt thường ngày của trẻ. Một số gợi ý cho việc sắp xếp môi trường cho trẻ:

  • Bạn cần sắp xếp một môi trường gọn gàng cho con bạn, nên lựa chọn những chiếc rèm cửa đơn giản, màu sắc nhẹ nhàng. Với những căn phòng mà trẻ dành nhiều thời gian, hãy cố gắng sử dụng những tấm thảm có màu đặc thay vì những tấm có hoa văn. Tường màu trung tính hoặc mềm mại ít kích thích hơn so với giấy dán tường có hoa văn màu đậm.
  • Vị trí ngồi: Có những trẻ bạn cần phải cho con ngồi bàn đầu tránh cửa sổ để tránh những phân tâm gây ảnh hưởng tới việc học. Tuy nhiên có những bạn nhỏ sẽ rất thích thú việc quan sát những gì những đứa trẻ khác đang làm trong lớp lúc này bạn nên cân nhắc việc cho con ngồi phía dưới để con đảm bảo không bị liên tục quay xuống bàn dưới để nhìn bạn.
  • Màu sắc: Tránh đồ chơi, quần áo, khăn tắm, v.v., trong những màu sắc mà con bạn thấy khó chịu.

Hãy nhớ rằng việc mọi người nhạy cảm hay tìm kiếm cảm giác là điều bình thường. Rối loạn điều chỉnh cảm giác chỉ trở thành một rối loạn khi nó tác động tiêu cực đến cuộc sống của một người (tức là khả năng chú ý, học hỏi, giao tiếp, thư giãn). Hãy giúp con bạn bằng cách cung cấp đầu vào và làm dịu giác quan thị giác theo nhu cầu của con.

Nguồn: shorturl.at/kopPR

Khứu giác

Hệ khứu giác là nơi tiếp nhận thông tin về mùi xung quanh chúng ta và chuyển các thông tin đó lên hệ thần kinh trung ương để xử lý thông tin. Hệ khứu giác của chúng ta có thể phân biệt được hàng ngàn mùi khác nhau và giúp chúng ta nhận diện ra đâu là mùi có thể gây nguy hiểm, sợ hãi, mùi mạnh, mùi nhẹ, và mùi cho cảm giác thoải mái. Nhiều trẻ có xu hướng thích ngửi các mùi mạnh để có sự tỉnh táo, tập trung và hành vi tích cực hơn. Bên cạnh đấy có những bạn nhỏ rất nhạy cảm với mùi. Khám phá mùi hương với con bạn để tìm ra mùi hương phù hợp nhất với mục tiêu của bạn và nhu cầu của trẻ. Nếu để xoa dịu bé hoặc đánh thức bé dậy mình có thể sử dụng một số mùi hương nhẹ nhàng: mùi hương vani, oải hương và hoa hồng thường làm dịu. Nếu bạn muốn con bạn tỉnh táo tập trung hơn và cung cấp đầu vào cho khứu giác đang tìm kiếm cảm giác của con bạn có lẽ bạc hà, tranh, cam quýt ... sẽ là gợi ý tốt. ------ Một số ý tưởng giúp bạn cung cấp đầu vào và làm dịu khứu giác cho trẻ: - Trồng một vườn cây có mùi hương: trồng những cây có mùi hương giúp tỉnh táo hoặc thư giãn ở sân sau hoặc trong bếp. Trồng các chậu cây hoa oải hương, hương thảo và các loại thảo mộc khác cho trẻ lựa chọn, ngửi và khám phá - Chiếc hộp khứu giác: thêm que quế, một vài giọt dầu thơm hoặc tinh dầu vào thùng đầy gạo khô hoặc đậu sau đó hãy cùng con bạn khám phá các mùi hương nhé - Gối sưởi từ gạo thơm: dùng vải chắc chắn, may một túi hình chữ nhật và đổ đầy gạo khô. Thêm một vài giọt dầu thơm có mùi hương giúp tỉnh táo hoặc làm dịu giác quan. Trước khi dùng, làm nóng nó trong lò vi sóng vài giây; hơi ấm sẽ giải phóng mùi hương. - Kem dưỡng ẩm: có sẵn một vài loại kem dưỡng da tay có mùi thơm khác nhau có thể dùng khi con bạn cần tăng năng lượng, sự tỉnh táo như: bạc hà hoặc cam quýt hoặc khi bé cần bình tĩnh (vani hoặc hoa oải hương) - Một số ý tưởng khác: Cho trẻ tô màu hoặc vẽ bằng bút đánh dấu có mùi hương giúp làm dịu hoặc có mùi theo nhu cầu và sở thích của trẻ. Tự làm đất nặn tại nhà bằng cách trộn bột và tinh dầu, dầu thơm. Việc cho trẻ tham gia làm bếp giúp chúng tiếp xúc với nhiều loại mùi là hoạt động cung cấp và làm dịu khứu giác rất tốt. Nguồn: https://www.sensorysmarts.com/sensory_diet_activities.html

Tiền đình

Tiền đình là một hệ thống thuộc hệ thần kinh nằm ở phía sau ốc tai (hai bên) có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng duy trì tư thế, dáng, phối hợp với cử động của mắt, đầu và thân mình. Tiền đình có chức năng chính là giữ thăng bằng cho cơ thể. Khi cơ thể di chuyển, khi cúi, xoay… hệ thống tiền đình cũng sẽ nghiêng lắc theo các động tác của cơ thể, từ đó giúp cho cơ thể có tư thế thăng bằng. Có những trẻ rất thích được đưa lên cao, thích được di chuyển nhiều, thích chơi xe đẩy, xích đu, thích các hoạt động chuyển động, vận động nhiều, thích đu người lên, thích xoay tròn, cảm giác mạnh, thích đung đưa, rung lắc từ trước về sau... Đó là những biểu hiện bạn nhỏ đang tìm kiếm thêm cảm giác về tiền đình. Tuy nhiên bên cạnh đó có những bạn lại quá nhạy cảm ví dụ: sợ độ cao, tránh xích đu, cầu trượt, bất cứ thứ gì quay tròn, con sợ khi chân không chạm đất, dễ bị chóng mặt và say... Hãy cung cấp đủ đầu vào cho tiền đình của bé thông qua các trò chơi: Chơi các trò lái máy bay, ô tô ở sân chơi, tàu lượn, xích đu... ở sân chơi. Lăn tròn trên thảm cỏ trong các cuộc dã ngoại, đi bơi cùng nhau vào mỗi buổi chiều hè hay đơn giản là cho con tập đứng trên một chiếc ghế cao, để con nằm trên tay bố và chơi trò tàu bay, ngồi trên chiếc xe đẩy trong siêu thị và cùng nhau đi mua sắm nào... Có rất nhiều trò chơi có thể thông qua đó cung cấp đầu vào cho các bạn nhỏ đang cố gắng tìm kiếm cảm giác bên cạnh đó giúp các bạn nhỏ quá nhạy cảm tập quen dần để có hệ tiền đình ổn định. Lưu ý: Đối với các bạn nhỏ quá nhạy cảm bố mẹ lưu ý cung cấp từ từ theo nhu cầu của bé không ép buộc trẻ làm điều con sợ. Hãy biến nối sợ của con thành điều tuyệt vời thông qua các trò chơi... Nguồn: https://bit.ly/2wieJkb

Giác quan vùng miệng

Quá trình xử lý cảm giác vùng miệng là cách não bộ của chúng ta tiếp nhận những thông tin thông qua miệng và hàm. Khi chúng ta ăn hoặc uống, miệng sẽ gửi thông tin lên não những thứ chúng ta ăn hoặc uống. Những thông tin này bao gồm nhiệt độ, chất liệu, và vị của đồ ăn. Não của chúng ta cũng nhận được những thông tin về cảm nhận bản thể khi hàm của chúng ta cắn và nhai. Những đầu vào giác quan vùng miệng có thể ảnh hưởng tới mức độ tỉnh táo của đứa trẻ; chúng thậm chí còn có khả năng thay đổi hành vi của trẻ, khiến trẻ trở nên bình tĩnh và có phản ứng phù hợp hơn ------- I/ Hoạt động cung cấp đầu vào giác quan vùng miệng giúp thúc đẩy nhận thức và tăng sự tập trung chú ý Một số gợi ý bố mẹ có thể chơi ở nhà giúp cung cấp đầu vào cho giác quan vùng miệng của trẻ: - Chơi với bàn chải rung trên má, môi… - Chơi trò tạo âm thanh từ miệng: zzzz như một con ong, nhấp lưỡi, ngân nga, hoặc thổi... - Chơi trò chơi tạo các khuôn mặt khác nhau trong gương hoặc bắt chước khuôn mặt hài hước của người khác như: mở miệng rộng, lè lưỡi, mỉm cười, cau mày, phồng má… - Ăn đồ ăn giòn như: táo, khoai tây chiên, bánh quy, bỏng ngô, rau sống, bánh mì nướng... - Ăn đồ ăn có vị chua / ngọt: sâu gummy chua, bưởi, cam, hoặc nước chanh - Ăn đồ ăn mặn như: khoai tây chiên, bánh quy hoặc các loại hạt - Ăn vặt với thức ăn lạnh như: đá bào, kem, hoặc nho đông lạnh... - Thử đồ ăn với hương vị mạnh: kẹo cay, đồ uống có ga…. -------- II/Các hoạt động làm dịu giác quan vùng miệng có thể giúp thư giãn cơ thể để trẻ có thể điều tiết hành vi học tập và các công việc hàng ngày khác Một số gợi ý hoạt động làm dịu giác quan vùng miệng: - Hút dung dịch đặc qua ống hút: các loại sinh tố hoặc bánh pudding; caramel; sữa chua - Uống nước bằng ống hút hoặc từ một lỗ nhỏ đòi hỏi phải mút - Nhai miếng nhai - Nhai kẹo cao su, nhai thức ăn, kẹo dẻo, cam thảo, trái cây khô... - Thổi bong bóng, bóng bay; thổi còi hoặc nhạc cụ - Hít sâu và thở ra từ từ - Hát, ngân nga - tạo âm trong cổ họng Nguồn: https://bit.ly/2wieJkb

Thính giác

  • Hệ Thính giác giúp chúng ta tiếp nhận và xử lý những thông tin về âm thanh. Khi chúng ta nghe âm thanh, tín hiệu sẽ được truyền lên não và được xử lý tại đó; não bộ sẽ ra những hiệu lệnh để cơ thể phản ứng với âm thanh được nghe. Hệ thính giác ngoài việc giúp chúng ta phân biệt được các âm thanh khác nhau, giải mã những thông tin đó thì hệ giác quan này còn có chức năng giúp bảo vệ cơ thể. Ví dụ, khi nghe thấy âm thanh của sự nguy hiểm, con người sẽ ngay lập tức có phản ứng phòng vệ, chạy trốn hoặc tránh. Do đó, nó là một hệ giác quan rất quan trọng của con người. - Một số biểu hiện rối loạn thính giác: Một vài trẻ khó chịu với những âm thanh ồn ào, đôi khi có thể giật mình bởi tiếng máy sấy tóc, bịt tai... bên cạnh đó có những bạn không có phản ứng với tiếng động lớn, bật to âm thanh ti vi, một số trẻ thì gặp khó khăn trong việc xác định âm thanh. II/ Có một số cách chơi khác nhau giúp làm dịu trẻ nhỏ bằng âm nhạc. 1. Ngoài những bài nhạc nhẹ không lời mọi người thường sử dụng chúng ta có thể cho con của bạn nghe những âm thanh tự nhiên xung quanh. "Hãy cho trẻ được đi ra ngoài bãi biển nghe tiếng gió thổi, hoặc đôi khi ngồi để lắng nghe âm thanh của trời mưa. 2. Sử dụng những bản ghi âm tự nhiên: Bạn hãy ghi âm lại những âm thanh tự nhiên "tiếng chim hót, tiếng sáo, mưa rơi, sóng biển..." và sử dụng nó với con bạn. Đôi khi những âm thanh tự nhiên sẽ giúp cho bạn nhỏ có thể ngủ ngon hơn. 3. Chơi trò chơi lắng nghe: Bạn có thể tạo ra một số âm thanh (tiếng xe cộ, tiếng tủ lạnh, tiếng bóng nổ,...) và cùng với con bạn tìm xem nó là tiếng gì và phát ra từ đâu. 4. Sử dụng nhạc cụ: Cho con bạn một loại nhạc cụ, khuyến khích bé chơi và có thể học trong điều kiện bé muốn. III/ Đối với một số trẻ quá nhạy cảm với âm thanh bạn cần cho con tập làm quen với những âm thanh ồn xung quanh. Việc bạn thông báo trước, dự báo cho con bạn là điều sẽ rất hiệu quả. Khi sử dụng âm nhạc với trẻ bạn phải thử với trẻ trước, đôi khi cũng cần sự nhạy cảm vì cảm nhận âm nhạc ở mỗi người rất khác nhau. Đôi khi một bài hát nhẹ nhàng tuyệt vời với bạn nhưng nó lại là những âm thanh khiến trẻ khó chịu. Hãy giúp con bạn cải thiện thính giác bằng nhiều cách nhưng hãy tôn trọng sự lựa chon của trẻ. Khi cho trẻ tiếp xúc với âm thanh, chúng ta hay nhớ công thức sau: Từng ít một-Tăng dần đều-Thường xuyên. Điều này có nghĩa là: khi cho nghe một loại âm thanh mới, hãy cho nghe nhỏ, rồi tăng to dần, và mỗi ngày nghe một chút, một chút, thường xuyên. Cách này sẽ giúp con học cách thích nghi với âm thanh từ từ. Nguồn: https://bit.ly/2WHGcpZ

Cảm nhận bản thể

Cảm nhận bản thể là những tác động đến cơ và khớp... ví dụ: ấn, kéo, đẩy, ôm xiết, mang vác vật nặng... Một số biểu hiện cơ bản ở trẻ thể hiện việc khó khăn trong việc cảm nhận bản thể: thích ôm ghì ôm chặt, hay ngồi các không gian hẹp. Làm thế nào để cung cấp đủ cảm nhận bản thể khi con bạn chỉ muốn có được áp lực sâu vào cơ thể? Đừng lo lắng có rất nhiều hoạt động có thể giúp con bạn trong những hoạt động thường ngày. 1. Đẩy và kéo: Trẻ có thể đẩy những chiếc xe đựng đồ khi đi siêu thị cùng bạn, lau nhà, hút bụi, đẩy chiếc thùng to có bạn ngồi trong đó... Tất cả đều là những hoạt động diễn ra hàng ngày và có thể luyện tập thường xuyên cho con bạn. 2. Mang vác vật nặng: Trẻ có thể xách những chiếc túi đựng đầy đồ dùng khi đi siêu thị về, có thể đeo những chiếc balo đựng đầy những đồ chơi... (Hãy để trẻ mang vật nặng vừa sức của con) 3. Xiết chặt: Bạn có thể dùng chiếc gối ấn vào lưng vào tay của trẻ hoặc bạn có thể tạo ra chiếc nem cuốn bằng cách dùng chăn mỏng quận tròn vào người con của bạn... Hãy kiên trì và luyện tập thật nhiều cùng con của bạn. Đường link gốc: https://bit.ly/2WHGcpZ

Xúc giác

Xúc giác là các cảm nhận trực tiếp qua da thông qua các hoạt động sờ, chạm, ấn, rung... Các vấn đề xúc giác vùng miệng của trẻ có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc ăn uống hằng ngày của trẻ. Một trải nghiệm thật tuyệt vời khi bố mẹ cùng con chạm các ngón tay của mình vào màu nước, cát, xà phòng hay kem cạo râu...và chơi cùng chúng. Nhưng tuyệt đối đừng bao giờ "ép buộc" con bạn phải chạm tay vào màu nước nếu con bạn không thích hãy để bạn nhỏ khám phá nó bằng cách nào đó con muốn: có thể với 1 cây cọ vẽ, hay với 1 chiếc ô tô ... vì nhu cầu của mỗi trẻ là khác nhau, hãy cung cấp đầu vào giác quan "đúng - đủ - phù hợp" cho con của bạn. Phần lớn từ trẻ nhỏ tới người lớn đều gặp vấn đề về các chế độ giác quan vì vậy việc cung cấp đầu vào cho giác quan của trẻ là điều rất quan trọng đặc biệt với trẻ tự kỷ. https://bit.ly/2WHGcpZ

Hệ nội cảm

Đã bao giờ bạn cảm thấy đói? Thế còn cảm nhận muốn được tắm rửa sạch sẽ thì thế nào? Hay cảm thấy mệt? Đây sẽ là câu hỏi nghe có vẻ dễ hiểu hơn này…. Làm thế nào mà bạn biết rằng bạn đang có cảm giác? Tất cả chúng ta đều có thể cảm nhận điều gì đang xảy ra bên trong và bên ngoài cơ thể dựa vào hệ thống giác quan thứ 8, “giác quan bị dấu kín"_ hệ nội cảm.

Hệ nội cảm là gì

Hệ nội cảm cho chúng ta khả năng cảm nhận những gì đang xảy ra ở bên trong cơ thể. Nó có một bộ phận dây thần kinh thụ cảm rất đặc biệt ở trên khắp cơ thể của chúng ta bao, nằm ở các bộ phận bên trong cơ thể như tim, phổi, ở xương, ở cơ và ở da. Những thụ thể này gửi thông tin tới não bộ để từ đó não bộ xử lý về các cảm giác của con người. Mục tiêu của hệ thụ cảm là giúp cơ thể luôn ở trong trạng thái cân bằng tốt nhất, được gọi là cân bằng nội mô hay hằng định nội mô. Nếu có thể cần năng lượng, bạn cảm thấy đói, bạn sẽ ăn. Nếu bạn cảm thấy mệt, mỏi, bạn sẽ ngủ. Đói, mệt,nhu cầu tắm gội, nhiệt độ cơ thể, buồn nôn, đau, kinh nguyệt…. tất cả những nhu cầu đó được cảm nhận bởi hệ nội cảm. Thêm vào nữa, hệ nội cảm còn chịu trách nhiệm việc cho phép chúng ta có những cảm nhận về cảm xúc (vui, buồn, đau lòng, ngạc nhiên…)

Hệ nội cảm và cảm xúc

Khi các bạn nghĩ về điều này, tất cả những cảm xúc của chúng ta đều gắn với cảm nhận về thể chất của cơ thể. Ví dụ, khi các bạn đi bộ ra từ một cửa hàng, bạn nhận thấy một người nào đó rạch lên cánh cửa chiếc xe ô tô của bạn một vệt dài mà không để lại lời nhắn nào cả. Bạn có thể cảm nhận thấy cơ của mình căng lên, cổ tay nắm lại, hai hàm răng cắn lại với nhau, tim đập nhanh hơn, và mặt thì nóng lên. Những biểu hiện đó được gọi là cảm giác tức giận. Việc nhận ra những cảm giác đó gắn với hệ nội cảm. Vì vậy, hệ nội cảm gắn với cảm xúc của con người. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng đọc những dấu hiệu thể chất gắn kết trực tiếp với khả năng kiểm soát cảm xúc của một con người. Và vì thế, khi đọc được các dấu hiệu của bản thân, ở một mặt khác lại giúp chúng ta đọc được cảm xúc của những người khác dựa trên biểu hiện cơ thể và cảm xúc của người đó.

Trích nguồn:

Interoception: The Eighth Sensory System (2016). Retrieved from https://docs.wixstatic.com/…/b303b5_ab07aaedc04c45b3a96e519…

Mahler, K. (2017). Interoception: The Eighth Sensory System. Kansas: AAPC Publishing.

Mehling, W.E., Proce, C. Daubenmier, J.J., Acree, M. Bartmess, E., & Stewart, A. (2012), The multidimensional assessment of interoceptive awareness (MAIA). PLoS One, 7(11), e48230. Doi:10.1371/journal.pone.0048230.

Hệ nội cảm và rối loạn xử lý giác quan

The Interoceptive System and Sensory Processing Disorder. #Hệ_nội_cảm_và_Rối_Loạn_Xử_Lý_Giác_Quan. Khi hệ nội cảm làm việc tốt, chúng ta có thể cảm nhận những nhu cầu của bản thân và hành động để thực hiện các nhu cầu đó. Chúng ta có trải nghiệm về cảm xúc và có khả năng nhận diện chính xác mình đang cảm thấy thế nào (hào hứng, phấn khích, buồn, giận….) Nhưng cũng giống như 7 hệ giác quan khác của chúng ta, hệ giác quan này có thể gặp những khó khăn về xử lý giác quan. Một người có thể gặp khó khăn về việc điều tiết trong chính hệ giác quan này. Một người có thể phản ứng thái quá với những tác động về cảm nhận bản thể. Anh ta có thể cảm thấy bị đau hơn hoặc đau lâu hơn so với người khác. Tương tự, một người có thể không có phản ứng gì với các tác động này cả. Cô ta có thể không có phản ứng dù với những thông tin về cảm nhận bản thể. Cô ấy có thể không cảm nhận được đau trừ phi nó phải thật sự rất rất đau. Một người cũng có thể gặp vấn đề về việc phân biệt xử lý giác quan trong hệ nội cảm này. Anh ta có thể nhận thức được những cảm giác rất mờ nhạt từ bên trong nhưng không thể nào xác định chính xác những cảm giác đó diễn ra ở nơi nào và chúng có ý nghĩa gì. Anh ta không thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân mình bởi vì anh ta không thể hiện được chúng là cảm nhận gì. Liệu đó có phải là cảm giác cơ thể mình đang đói hay không cũng không thể phân biệt được? Nhu cầu phải đi vào nhà vệ sinh? Liệu có phải mình đang bị ốm không nhỉ? Làm thế nào để có hành động phù hợp nếu cơ thể không thể gọi tên ra được cảm nhận đó là gì để đưa ra phản ứng phù hợp. Hơn nữa, khi bạn đã gặp khó khăn về việc hiểu về những cảm nhận ở bên trong cơ thể, thì việc hiểu cảm xúc của chính mình cũng trở nên vô vùng khó khăn. Điều này có thể khiến một người bị quá tải về cảm xúc và có các biểu hiện không phù hợp- như là hung hăng, quá trầm tư, cười mãi không ngớt. Các biểu hiện này có thể xảy ra thường xuyên. What Else Does Interoception Impact? Hệ nội cảm còn ảnh hưởng đến những gì khác? Bởi vì hệ nội cảm có nền tảng quan trọng từ việc điều phối các hoạt động thể chất và cảm xúc của chúng ta, nên chẳng bất ngờ gì nếu nó ảnh hưởng trực tiếp tới một số lĩnh vực kỹ năng quan trọng. Những nhóm kỹ năng đó bao gồm: tự kiểm soát bản thân, tự nhận thức, tư duy xã hội, tư duy linh hoạt, giải quyết vấn đề, kỹ năng xã hội bản năng và sự tham gia xã hội. Can You Improve Interoception? Bạn có thể cải thiện hệ nội cảm không? Có, bạn có thể cải thiện khả năng của một người giúp họ có thể hiểu được các thông tin từ hệ nội cảm mang lại. Nghiên cứu chỉ ra rằng hệ nội cảm có thể được cải thiện nếu như làm việc với một chuyên gia về trị liệu hoạt động (OT) người được đào tạo về xử lý giác quan và có thể phát triển cũng như thực hiện những chiến lược cho bệnh nhân ở những vấn đề cụ thể của hệ nội cảm ( ví dụ quá nhạy hoặc quá trơ-không phân biệt được sự khác biệt của các tác động giác quan). Hình thức trị liệu này tập trung vào việc học về những dấu hiệu nội cảm. Tăng cường khả năng nhận thức về nội cảm (IA) bằng cách giúp cho bệnh nhân cảm nhận được các biểu hiện của cơ thể mình, gọi tên và gán ý nghĩa cho chúng, cuối cùng là tăng cường nhận thức về hệ nội cảm để phát triển các kỹ năng liên quan khác. Trích nguồn: Interoception: The Eighth Sensory System (2016). Retrieved from https://docs.wixstatic.com/.../b303b5... Mahler, K. (2017). Interoception: The Eighth Sensory System. Kansas: AAPC Publishing. Mehling, W.E., Proce, C. Daubenmier, J.J., Acree, M. Bartmess, E., & Stewart, A. (2012), The multidimensional assessment of interoceptive awareness (MAIA). PLoS One, 7(11), e48230. Doi:10.1371/journal.pone.0048230.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.