Logo Trung tâm AN
Trung tâm AN
Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học Tâm lý-Giáo dục
Research and Applied Psychology and Educational Science
Hà Nội, Việt Nam · Thành lập 2018
Hanoi, Vietnam · Established 2018

Ở nhà An, con học gì thì cha mẹ học nấy.

At AN, whatever the child is learning, the parents learn too.

Trung tâm AN nhận đánh giá và can thiệp cho trẻ từ 12 đến 72 tháng: chậm phát triển ngôn ngữ, rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp, tăng động giảm chú ý, và tự kỷ.

AN Center provides assessment and intervention for children aged 12 to 72 months: language delay, language and communication disorders, attention deficit hyperactivity disorder, and autism.

Ngay từ ngày đầu con vào chương trình, cả gia đình cùng vào cuộc.

From your child's first day in the programme, the family is part of it — because the person who spends the most hours with your child each day is you, not us.

Sảnh đón của Trung tâm AN
Trẻ 12–72 tháng Đại Mỗ, Hà Nội Hoạt động từ 2018
Children 12–72 months Dai Mo, Hanoi Operating since 2018

Lúc nào thì nên cho con đi khám?

Signs worth asking a professional about

Mỗi đứa trẻ lớn lên theo nhịp riêng, nên những điều dưới đây không phải là chẩn đoán. Nhưng nếu con có vài dấu hiệu ở đúng mốc tuổi, anh chị nên cho con đi đánh giá.

Every child follows their own pace, and the list below is not a diagnosis. But if your child shows several of these signs at their age, that is reason enough to ask — not to worry more, but to know.

Khoảng 12 tháng
Around 12 months
  • Con chưa bi bô như đang nói chuyện
  • Con không chỉ tay, không vẫy tay chào, không chìa đồ cho người lớn xem
  • Gọi tên con không quay lại, dù tai con nghe bình thường
  • Con ít nhìn vào mắt người chơi với mình
  • Not yet babbling in strings of sounds with speech-like intonation
  • Does not point, wave, or hold objects up to show an adult
  • Does not turn when called by name, with normal hearing
  • Rarely looks at the eyes of the person playing with them
Ở tuổi nào cũng vậy: nếu con từng nói được vài từ, từng nhìn vào mắt, từng chơi cùng người khác rồi mất đi, anh chị nên cho con đi khám sớm. At any age: if your child has lost a skill they once had — spoke a few words and stopped, made eye contact and stopped, played with others and stopped — seek an assessment promptly rather than waiting.
Trước buổi đánh giáBefore the assessment

Ghi lại những từ con nói, những điều gia đình lo lắng, những cách đã làm. Và tốt hơn cả, mỗi ngày dành ít nhất 15 phút chơi vui vẻ cùng con.Write down the words your child says, what worries your family, and what you have already tried. Better still, spend at least fifteen minutes a day playing happily with your child.

Bốn việc anh chị làm được tối nayFour things you can do tonight

Quy trình đánh giá và tư vấn cho con

Assessment and consultation

1
Đặt lịch hẹn qua Zalo hoặc Facebook
Book an appointment on Zalo or Facebook
2
Đánh giá cùng chuyên gia
The assessment, with our specialist
Ngồi cùng con, trả lời các câu hỏi từ chuyên gia và phối hợp cùng khi cần.
You sit with your child, answer the specialist's questions, and join in when needed.
3
Tư vấn
The consultation
Lắng nghe để hiểu sự phát triển toàn diện của con, phương pháp can thiệp phù hợp, thời lượng can thiệp và những gì cần làm cho con tại nhà.
You hear about your child's development as a whole, which approach suits them, how many hours of intervention, and what to do with your child at home.
4
Gửi con vào chương trình can thiệp
Enrolling your child
Đăng ký can thiệp dựa theo tư vấn của chuyên gia và hoàn thành thủ tục đăng ký.
You enrol based on the specialist's advice and complete the paperwork.

Con vào chương trình rồi thì ba tuần đầu, một ngày, một tuần diễn ra thế nào, và gia đình tham gia những gìWhat the first three weeks, a day and a week look like once your child joins, and what families take part in

Lời của cha mẹ

In parents' words

“Cô nói những mục tiêu này bình thường đặt cho một năm, nhưng với cường độ can thiệp ở AN thì con đi nhanh hơn được, nên cô rút còn sáu tháng. Em nghe mà không dám tin. Hết sáu tháng con đạt thật, giờ đã dừng can thiệp sớm và đi học mầm non như các bạn.”

“They told us these goals would normally be set for a year, but that with the intensity of intervention here our child could go faster, so they set them for six months. I did not dare believe it. At six months he had met them, and he has now finished early intervention and goes to preschool like the other children.”

— Mẹ một bé đã hoàn thành chương trình tại Trung tâm AN — Mother of a child who completed the programme at AN Center

“Em đi mấy nơi rồi, chỗ nào cũng bảo cứ cho con học đi rồi tính. Ngồi với cô Nha Trang buổi đầu, em được nghe rõ con đi theo lộ trình nào, mỗi tuần bao nhiêu giờ, và ở nhà em cần làm gì. Thích nhất là lúc nào em cũng biết con đang học gì, đang tiến đến đâu.”

“We had been to several places, and everywhere we were told to just enrol him and see. In our first meeting with Ms Nha Trang we were told exactly what path our child would follow, how many hours a week, and what we should be doing at home. What I like most is that I always know what my child is working on and how far he has come.”

— Mẹ một bé đang can thiệp tại Trung tâm AN — Mother of a child currently in the programme at AN Center

“Lúc các cô nói sẽ huấn luyện riêng cho em, em nghĩ mình có chuyên môn gì đâu mà làm được. Nhưng các cô chỉ cho từng kịch bản chi tiết, hai tuần sau em thấy mình làm được gần đúng. Tự mình dạy được con còn thích hơn là nghe cô giáo báo con tiến bộ mà mình không nhìn thấy gì.”

“When they said they would coach me one-to-one, I thought I had no training, how could I do it. But they walked me through each scenario in detail, and two weeks later I found I was doing it nearly right. Teaching my own child is more satisfying than being told he is making progress and seeing none of it myself.”

— Mẹ tham gia chương trình huấn luyện cha mẹ 1–1 — A mother in the one-to-one parent coaching programme at AN Center
Liên hệ
Contact

Nếu anh chị có bất cứ câu hỏi nào, hãy nhắn cho An.

If you have any question at all, write to us.

Câu chuyện của An
Our story

Cái tên An

The name An

Cái tên An thật đặc biệt tới nỗi nó khiến cho quá trình xin giấy khai sinh cho An gặp nhiều ơi là nhiều băn khoăn, họ cứ hỏi, sao lại lấy cái tên cụt như thế.

The name An is so unusual that registering it brought no end of questions. People kept asking why we would take such a short, unfinished-sounding name.

Nhưng có lẽ cái tên cụt ấy lại bao hàm nhiều ý nghĩa, nó khác biệt nhưng nó toàn diện. Hôm nay An đã được chấp nhận là chính bản thân nó, không phải thay đổi tên tuổi.

Yet perhaps that short name holds a great deal. It is different, and it is whole. Today An is accepted as itself, without having to change its name.

Nhìn lại có cảm giác An giống như một đứa trẻ đẹp nhưng rất đặc biệt.
Looking back, An feels like a beautiful child who is also very different.
Logo
The logo

Câu chuyện về logo của An

The story behind the logo

Logo cỏ bốn lá trên tường Trung tâm AN

Logo của An là hình 4 trái tim ghép lại với nhau có hình cỏ 4 lá. Nó mang thông điệp: Hãy yêu thương, hãy tin tưởng vào các bé.

The logo of An is four hearts joined together in the shape of a four-leaf clover. Its message: love these children, believe in them.

Câu chuyện kể rằng đứa bé trên thế gian can đảm bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi qua bao thác ghềnh với một trái tim dũng cảm sẽ tìm được loại cỏ bốn lá, loại cỏ sẽ mang lại nụ cười hạnh phúc mãi mãi, nụ cười hạnh phúc của trẻ thơ.

The story goes that a child of this world who walks bravely into the deep forest, on and on past waterfalls and rapids with a courageous heart, will find the four-leaf clover, the plant that brings a happiness that lasts, the happiness of a child.

Khi tìm được ngọn cỏ bốn lá, đứa trẻ sẽ đứng trong gió, đặt ngọn cỏ vào trái tim nồng ấm và hát khúc ca đồng dao. Mỗi lá trên ngọn cỏ tượng trưng cho một thứ quý giá nhất của cuộc sống.

On finding it, the child stands in the wind, places the clover against a warm heart and sings an old nursery song. Each leaf stands for one of the most precious things in life.

Lá thứ nhất, đứa bé thì thầm
The first leaf, the child whispers
Niềm hi vọng
Hope
Lá thứ hai, đứa bé mỉm cười
The second leaf, the child smiles
Niềm tin
Faith
Lá thứ ba
The third leaf
Tình yêu
Love
Lá cuối cùng
The last leaf
Sự may mắn
Luck
Truyền thuyết
The legend

Bốn món quà thượng đế ban tặng

Four gifts, given at birth

Bốn món quà thượng đế ban tặng cho mỗi đứa trẻ khi chúng mới ra đời nhưng để tìm được chúng đứa trẻ ấy phải mãi đi tìm, tìm trong rừng sâu của cuộc đời với trái tim dũng cảm.

Four gifts given to every child at birth, but to find them the child must keep searching, searching through the deep forest of life with a courageous heart.

Với những đứa trẻ đặc biệt, khu rừng ấy rậm rạp hơn. Có con chưa nói ra được điều mình muốn. Có con chưa biết cách cho người khác hiểu mình. Con đường đi tìm vì thế dài hơn, và con không đi một mình được.

Có những lúc cả con và cha mẹ đều thấy mình lạc giữa rừng, rồi thẫn thờ mà hỏi:

For children who are different, that forest is thicker. Some cannot yet say what they want. Some do not yet know how to let others understand them. The path takes longer, and they cannot walk it alone.

There are moments when both the child and the parents feel lost among the trees, and ask:

Ngọn cỏ bốn lá của mình đâu rồi?
Where is my four-leaf clover?

Nhưng đứa trẻ đâu biết thượng đế trên cao đang mỉm cười:

But the child does not know that above them, someone is smiling:

  • Khi có người ngồi xuống ngang tầm mắt con, chờ con, và hiểu được điều con chưa nói ra — đó là tình yêu.
  • When someone sits down at your child's eye level, waits, and understands what they cannot yet say — that is love.
  • Khi con biết mình không phải đi một mình, và những người lớn quanh con không ai bỏ cuộc — đó là niềm tin.
  • When your child knows they are not walking alone, and none of the adults around them gives up — that is faith.
  • Khi gia đình tìm được đúng người đồng hành, và tìm được sớm — đó là sự may mắn.
  • When a family finds the right people to walk beside them, and finds them early — that is luck.
  • Khi mỗi ngày con tiến thêm một chút, và cả nhà cùng mừng vì điều nhỏ ấy — đó là niềm hi vọng.
  • When your child moves forward a little each day, and the whole family celebrates that small thing — that is hope.
Tôi tin rằng, mỗi đứa trẻ của chúng ta đều sẽ tìm được chiếc cỏ 4 lá cho chính mình.
I believe that every one of our children will find their own four-leaf clover.
Chữ An
The word An

An vui, an toàn, an yên

At ease, safe, at peace

Chữ AN, như cái tên nhẹ nhàng, ý nghĩa của chữ An không gì khác là một cảm giác rất an vui, an toàn, an yên cho các con học sinh và quý vị phụ huynh.

The word An, gentle as the name itself, means nothing other than a feeling of ease, of safety, of peace, for the children and for their parents.

Chúng tôi tin tưởng rằng, đứa trẻ học tốt nhất khi chúng biết rằng chúng được yêu thương và cảm thấy bình an.
We believe a child learns best when they know they are loved and feel at peace.

Tôi xin chia sẻ câu chuyện về chiếc logo và ý nghĩa của chữ An tới từng Quý vị với mong muốn chúng ta hãy cùng nhau tạo dựng nên một môi trường học tập lấy tôn chỉ là tình yêu thương và không ngừng tin tưởng vào mỗi con yêu của mình.

I share the story of the logo and the meaning of the name An with each of you, in the hope that together we may build a place of learning whose guiding principle is love, and an unceasing belief in each of our own dear children.

Người sáng lập
Founder
Chân dung Ths. Nguyễn Thị Nha Trang, người sáng lập Trung tâm AN

Ths. Nguyễn Thị Nha TrangNguyen Thi Nha Trang, M.S.

Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm AN. Làm việc trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt và can thiệp sớm từ năm 2004.

Founder and Director of AN Center. Working in special education and early intervention since 2004.

  • 2012Thạc sĩ Khoa học, Chương trình Can thiệp sớm, Đại học Oregon, Hoa Kỳ — chuyên ngành Can thiệp sớm / Giáo dục đặc biệt cho trẻ từ sơ sinh đến 8 tuổi. Học bổng Fulbright của Chính phủ Hoa Kỳ.Master of Science, University of Oregon Early Intervention Program, USA — specialisation in Early Intervention / Early Childhood Special Education, birth to eight years. Fulbright scholarship, U.S. Department of State.
  • 2015Biên tập bản tiếng Việt bộ sàng lọc M-CHAT-R/FEditor, Vietnamese edition of the M-CHAT-R/F screening instrument
  • 2018Đồng dịch giả bản tiếng Việt bộ ASQ-3, Brookes Publishing, Hoa KỳCo-translator, Vietnamese edition of ASQ-3, Brookes Publishing, USA
  • 2025Chứng chỉ cao cấp DIR 203 của ICDL, Hoa Kỳ, về huấn luyện người chăm sóc, giáo viên và người cung cấp dịch vụAdvanced Certificate (DIR 203) from ICDL, USA, in coaching caregivers, teachers and other providers
Công cụ sàng lọc
Screening instruments

Hai công cụ sàng lọc chuẩn quốc tế, có bản tiếng Việt

Two international screening instruments, in Vietnamese

Hai bộ này được dùng ở nhiều nước. Người sáng lập Trung tâm AN tham gia chuyển ngữ cả hai sang tiếng Việt.

The founder of AN Center contributed to the Vietnamese editions of two widely used developmental screening instruments.

ASQ-3 — Ages & Stages Questionnaires
Đồng dịch giả bản tiếng Việt
Co-translator, Vietnamese edition

Bộ 21 bảng hỏi để cha mẹ tự điền, cho trẻ từ 1 tháng đến 5 tuổi rưỡi. Tiếng Việt là một trong năm thứ tiếng được nhà xuất bản thử nghiệm đầy đủ.

Twenty-one parent-completed questionnaires screening development from one month to five and a half years. Vietnamese is one of five languages the publisher develops and pilot-tests in full.

21 mốc tuổi sàng lọc, tính theo tháng
The 21 screening intervals, in months
Paul H. Brookes Publishing Co., 2018 · ISBN 978-1-68125-265-0
M-CHAT-R/F
Biên tập bản tiếng Việt
Editor, Vietnamese edition

Bảng kiểm sàng lọc nguy cơ tự kỷ cho trẻ 16–30 tháng, gồm hai giai đoạn: bảng hỏi cho cha mẹ và phỏng vấn theo dõi dành cho nhà chuyên môn. Bản dịch do CCIHP thực hiện, Ths. Nguyễn Thị Nha Trang biên tập, tháng 6 năm 2015. Phát miễn phí trên trang chính thức của bộ công cụ.
Xem bản tiếng Việt (PDF)

A two-stage screening instrument for autism risk in children aged 16–30 months: a parent questionnaire and a follow-up interview for professionals. Translated by CCIHP and edited by Nguyen Thi Nha Trang, June 2015. Distributed free of charge from the instrument’s official website.
View the Vietnamese edition (PDF)

© 2009 Robins, Fein & Barton · bản tiếng Việt 2015 · mchatscreen.com© 2009 Robins, Fein & Barton · Vietnamese edition 2015 · mchatscreen.com
Hợp tác quốc tế
International partnership

Project ECHO, Đại học New Mexico

Project ECHO, University of New Mexico

Từ tháng 6 năm 2018, Trung tâm AN là đối tác nhân rộng chính thức của Project ECHO thuộc Đại học New Mexico, Hoa Kỳ: chương trình cố vấn chuyên môn từ xa, nơi người làm nghề ở nhiều tỉnh thành mang ca thật ra bàn cùng nhau.

Since June 2018, AN Center has been an official replication partner of Project ECHO at the University of New Mexico — a tele-mentoring programme for practitioners across provinces, where real cases are discussed together.

Chương trình cố vấn chuyên môn từ xa Project ECHO — năm 2025–2026
The Project ECHO tele-mentoring programme — 2025–2026
187
phiên đã tổ chức
sessions delivered
7.709
lượt người tham dự
participant attendances
58
chủ đề chuyên môn
professional topics
300+
giờ đào tạo và hội thảo
hours of training and clinics
Đội ngũ
Our team

Các thầy cô của con

Your child’s teachers

Chương trình của mỗi trẻ được bốn đến năm chuyên viên cùng xây, và người trực tiếp làm việc với con mỗi ngày là các cô ở đây. Ở nhà An chúng tôi gọi nhau là Aners.

Each child's programme is built by four or five professionals, and these are the people who work with your child day to day. Among ourselves we are called Aners.

Phụ trách chuyên môn
Clinical leadership
Phạm Thị Diễm
Phạm Thị Diễm
Cử nhân Tâm lý học · Học viên thạc sĩ Giáo dục đặc biệt
BA in Psychology · Master’s candidate in Special Education
Phó giám đốc
Deputy Director
Phạm Thanh Mai
Phạm Thanh Mai
Cử nhân Công tác xã hội · Học viên thạc sĩ Công tác xã hội
BA in Social Work · Master’s candidate in Social Work
Quản lý chuyên môn
Clinical manager
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialists
Đào Duy Thịnh
Đào Duy Thịnh
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Nguyễn Thu Phương
Nguyễn Thu Phương
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Bùi Thu Hà
Bùi Thu Hà
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Đỗ Minh Huyền
Đỗ Minh Huyền
Cử nhân Công tác xã hội
BA in Social Work
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Đào Thị Mỹ Dung
Đào Thị Mỹ Dung
Cử nhân Giáo dục học
BA in Education
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Mai Thanh Loan
Mai Thanh Loan
Điều dưỡng
Nursing qualification
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Nguyễn Thị Phượng
Nguyễn Thị Phượng
Cử nhân Tâm lý học
BA in Psychology
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist
Phạm Thị Nhâm
Phạm Thị Nhâm
Cử nhân Giáo dục đặc biệt
BA in Special Education
Chuyên viên can thiệp
Intervention specialist

Hành trình phát triển chuyên môn của Aners

How an Aner grows

Tất cả giáo viên và chuyên viên ở AN tốt nghiệp từ bậc cử nhân trở lên, các ngành giáo dục mầm non, giáo dục đặc biệt, công tác xã hội, tâm lý giáo dục hoặc tham vấn tâm lý. Vào AN rồi, hành trình mới bắt đầu.

Every teacher and specialist at AN holds at least a bachelor's degree in early childhood education, special education, social work, educational psychology or counselling psychology. Once here, the journey begins.

Sáu tháng đầu
The first six months
1
Giáo viên thử việc
Trainee teacher
2
Giáo viên học việc
Apprentice teacher
3
Giáo viên chuẩn
Standard teacher
Sáu tháng đào tạo mới đạt mức giáo viên chuẩn
Six months of training to reach standard teacher
Những năm tiếp theo
The years after
4
Giáo viên chuẩn cấp độ mentor
Standard teacher, mentor level
5
Quản lý ca
Case manager
6
Quản lý chuyên môn
Clinical manager
Dù đang ở bậc nào trên hành trình này, mỗi Aner đều chịu trách nhiệm với đứa trẻ mình làm việc cùng. Wherever they are on this path, every Aner is responsible for the child they work with.
Nơi thực hành nghề
A place to practise

Trung tâm AN và An Academy Việt Nam

AN Center and An Academy Việt Nam

Trung tâm AN là nơi thực hành cho các chương trình đào tạo nhà chuyên môn của An Academy Việt Nam, học viên làm việc với ca thật dưới sự giám sát chuyên môn.

AN Center is the practice site for the professional training programmes of An Academy Việt Nam — trainees work with real cases under professional supervision.

Chương trình của con vì thế được nhiều người có chuyên môn cùng nhìn, cùng bàn.

The work with your child is therefore reviewed by several professionals, rather than resting on one person's judgement.

Dịch vụServices

Năm dịch vụ của AnThe five services of An

Bắt đầu từ đâuWhere to start
Con chưa từng được đánh giá phát triểnYour child has never had a developmental assessment
Anh chị muốn tự dạy con ở nhà, hoặc ở xa Hà NộiYou want to work with your child at home, or you live far from Hanoi
Con cần học nhiều giờ mỗi tuần, và cần cả bạn lẫn côYour child needs many hours a week, with both peers and teachers
Con đã có ngôn ngữ, cần tập chơi và xử lý mâu thuẫn với bạnYour child has language and needs practice playing and negotiating with peers
Con cần tập trung vào một khó khăn cụ thể, chưa học nhóm đượcYour child needs to work on one specific difficulty and is not ready for a group
Năm dịch vụThe five services

Con vào học rồi thì một ngày, một tuần diễn ra thế nào — xem Chương trình.What a day and a week look like once your child joins — see Programme.

Chương trìnhProgramme

Kế hoạch cá nhân cho trẻYour child's individual plan (IFSP/IEP)

Sau buổi đánh giá, con có một kế hoạch cá nhân cho sáu tháng. Đây là tài liệu mà mọi giờ học của con bám vào — giờ cá nhân, giờ nhóm, và cả bữa ăn.After the assessment, your child has an individual plan of their own for the next six months — an Individualized Family Service Plan (IFSP) for children under three, an Individualized Education Program (IEP) from three onwards. It is the document every session works from — individual time, group time, and mealtimes too.

Gia đình nhận kế hoạch sau ba tuần, kèm một buổi họp 1–1 kéo dài 45 đến 60 phút đi qua từng mục tiêu.You receive the plan after three weeks, with a one-to-one meeting of forty-five to sixty minutes going through every goal.

Kế hoạch cá nhân của con gồm những gìWhat your child's IFSP/IEP contains
1
Mục tiêu riêng của conGoals written for your child
Mục tiêu được viết theo dự đoán phát triển của con, xác định sau buổi đánh giá với chuyên gia. Mục tiêu sáu tháng chia nhỏ ra từng tháng.The goals are written from what your child is expected to develop next, established at the assessment with our specialist. The IFSP/IEP goals are broken down month by month.
2
Khó khăn cốt lõi được ưu tiênThe core difficulty comes first
Kế hoạch tập trung vào khó khăn cốt lõi của con: ngôn ngữ, giao tiếp, hành vi, rối loạn xử lý giác quan, hoặc kỹ năng học tập.The plan works on your child’s core difficulty: language, communication, behaviour, sensory processing difficulties, or learning skills.
3
Nhóm chuyên gia làm việc cùng conThe team who work with your child
Bốn đến năm chuyên viên cùng ngồi lại xây dựng kế hoạch, và cùng làm việc với con.Four to five professionals sit down together to build the plan, and work with your child themselves.
4
Cách tiếp cận can thiệpHow we work
An dùng nhiều cách tiếp cận: hướng hành vi (ABA), hướng phát triển (Floortime), công cụ giao tiếp thay thế (AAC), và hình ảnh hỗ trợ trong quản lý hành vi và học tập. Chương trình của An mạnh về kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ,hỗ trợ hành vi tích cực.AN draws on several approaches: behavioural (ABA), developmental (Floortime), augmentative and alternative communication (AAC), and visual supports for behaviour and learning. AN’s programmes are strongest in communication, language, and positive behaviour support.
5
Theo dõi từng kỹ năngTracking every skill
Mỗi kỹ năng được theo dõi cả tiến độ lẫn chất lượng con đạt được. Từ tuần đầu tiên, gia đình đã có nhận xét theo tuần, không phải chờ đến cuối chương trình.Every skill is tracked for both progress and the quality your child reaches. From the very first week you receive notes every week, rather than waiting until the end of the programme.
Chưa đến buổi đánh giá thì chưa có kế hoạch. Mọi dịch vụ can thiệp của An đều bắt đầu từ buổi đánh giá. Riêng dịch vụ đánh giá kèm xây dựng kế hoạch cá nhân thì gia đình nhận chương trình sau bảy ngày làm việc.There is no plan before the assessment. Every intervention service at AN begins there. For the assessment with an IFSP/IEP service alone, families receive the programme within seven working days.
Ba tuần đầu
The first three weeks

Từ lúc con vào đến khi có kế hoạch cá nhân

From your child's first day to their six-month plan

1
Đánh giá để lên chương trình
Assessment for the plan
Trong 15 ngày đầu, con được đánh giá để dựng kế hoạch cá nhân.
In the first fifteen days, your child is assessed so the IFSP/IEP can be built.
2
Nhận xét tuần ngay từ tuần đầu
Weekly notes from week one
Anh chị nhận nhận xét về tiến độ học của con theo tuần, không phải chờ đến cuối chương trình.
You receive notes on your child's progress every week, not at the end of the programme.
3
Hội đồng chuyên môn họp
The professional panel meets
Bốn đến năm chuyên viên cùng ngồi lại xây kế hoạch sáu tháng cho con.
Four to five professionals sit down together to build your child's six-month plan.
4
Họp riêng với phụ huynh
A meeting just for you
Một buổi họp 1–1 kéo dài 45 đến 60 phút, đi qua từng mục tiêu. Mục tiêu sáu tháng được chia nhỏ ra từng tháng.
A one-to-one meeting of forty-five to sixty minutes, going through every goal. The IFSP/IEP goals are broken down month by month.
Chương trình
Programme

Một ngày của con ở AN

A day at AN

Con học bán trú từ 7:45 đến 16:00, thứ Hai đến thứ Sáu. Trong ngày con có sáu buổi học một cô một trò, hai buổi trị liệu nhóm, và ba bữa ăn. Mọi hoạt động, kể cả bữa ăn và lúc cởi giày, đều lấy mục tiêu từ kế hoạch cá nhân của riêng con.

Children attend from 7:45 to 16:00, Monday to Friday. The day holds six one-to-one sessions, two group sessions, and three meals. Every activity, including meals and taking off shoes, works towards goals from the child's own IFSP/IEP.

Buổi sáng
Morning
7:45 – 8:00
Đón trẻ
Arrival
Chào hỏi, cùng cô dựng lịch trình cho cả ngày. Con tự tháo giày cất vào giá, cởi áo khoác, mang đồ về tủ của mình.
Greetings, and building the day's schedule with the teacher. The child takes off their shoes and puts them away, removes their coat, and carries their things to their own locker.
8:00 – 8:30
Cá nhân
One-to-one
Vận động trị liệu, ổn định giác quan.
Movement therapy and sensory regulation.
8:30 – 9:00
Cá nhân
One-to-one
Con học một cô một trò, theo đúng kế hoạch cá nhân của con.
One teacher, one child, following the child's own IFSP/IEP.
9:00 – 9:30
Trị liệu nhóm
Group therapy
Kéo dài thời gian tập trung chú ý, bắt chước, lắng nghe, chờ đến lượt, hiểu và làm theo luật chơi. Các kỹ năng này lấy từ kế hoạch cá nhân của con.
Extending attention span, imitation, listening, turn-taking, and following the rules of a game. These skills come from the child's IFSP/IEP.
9:30 – 10:00
Ăn nhẹ
Snack
Giờ ăn cũng là giờ trị liệu: tập ăn, tập nhai, làm quen món mới, dọn dẹp, vệ sinh cá nhân. Kèm theo là giao tiếp: yêu cầu, từ chối, bình luận, gọi tên.
Eating is therapy too: learning to eat and chew, trying new foods, clearing up, personal hygiene. Alongside it, communication: requesting, refusing, commenting, naming.
10:00 – 11:00
Cá nhân
One-to-one
Hai buổi học một cô một trò, theo kế hoạch cá nhân của con.
Two one-to-one sessions, following the child's IFSP/IEP.
11:00 – 11:40
Ăn trưa
Lunch
Tiếp tục các mục tiêu về tự phục vụ và giao tiếp trong bữa ăn.
The self-care and communication goals continue through the meal.
11:40 – 13:40
Ngủ trưa
Nap
Buổi chiều
Afternoon
13:45 – 14:00
Vận động theo nhạc
Movement to music
Khởi động buổi chiều.
Warming up for the afternoon.
14:00 – 14:30
Trị liệu nhóm
Group therapy
Tập trung chú ý, bắt chước, lắng nghe, chờ đến lượt, làm theo luật chơi.
Attention, imitation, listening, turn-taking, following the rules of a game.
14:30 – 15:00
Ăn chiều
Afternoon snack
Tự phục vụ và giao tiếp, như các bữa trước.
Self-care and communication, as at the earlier meals.
15:00 – 16:00
Cá nhân
One-to-one
Hai buổi học một cô một trò cuối ngày.
The last two one-to-one sessions of the day.
16:00 – 16:15
Trả trẻ
Going home
Cô trao đổi với phụ huynh tình hình học của con trong ngày.
The teacher tells you how your child's day went.
Khu chờ và góc chơi của Trung tâm AN

Giờ trả trẻ muộn nhất là 16:30. Nếu đón con muộn hơn, anh chị đăng ký giờ trông muộn hoặc giờ cá nhân bổ sung cho con.

The latest pick-up is 16:30. If you need longer, you can book late care or an additional one-to-one session.

Cha mẹ
Parents

Sáu việc gia đình tham gia

The six things families take part in

Ngay từ ngày đầu con vào chương trình, gia đình tham gia vào sáu việc:

From your child's first day in the programme, you take part in six things:

1
Buổi đánh giá và tư vấn về chương trình, phương pháp can thiệp cho con
The assessment and the consultation on your child's programme and methods
2
Lộ trình ba tuần đầu của con
Your child's first three weeks
3
Đóng góp thông tin để hoàn thiện báo cáo phát triển của con
Contributing information that completes your child's developmental report
4
Họp 1–1 về chương trình cá nhân của con
One-to-one meetings about your child's individual programme
5
Học 1–1 để dạy con tại nhà
One-to-one coaching to teach your child at home
6
Theo dõi kết quả tại nhà hằng tuần, cho tới khi con dừng can thiệp
Tracking results at home each week, until your child finishes intervention
Phòng làm việc riêng, nơi họp 1–1 với cha mẹ

Trao đổi thông tin

Keeping in touch

Hằng tuần, anh chị nhận nhận xét kết quả can thiệp của con qua email và nhóm Zalo, kèm đường dẫn Google Drive.

Every week you receive notes on your child's progress by email and in the Zalo group, with a Google Drive link.

Bất cứ khi nào có băn khoăn về con hoặc về chương trình của con, anh chị hẹn gặp nhà chuyên môn của AN. Whenever you have a question about your child or their programme, you can book a meeting with an AN professional.
Dịch vụ 1
Service 1

Đánh giá phát triển

Developmental assessment

Hình thức 1Option one
Hình thức 2Option two
2.000.000 đ2,000,000 VND
5.000.000 đ5,000,000 VND
Đánh giá và tư vấn về phát triển, định hướng can thiệpAssessment and guidance on development and a direction for intervention
Đánh giá và xây dựng chương trình can thiệp cá nhânAssessment and an individual intervention programme
Đánh giá tổng quan các lĩnh vực phát triển: ngôn ngữ, giao tiếp, chơi, giác quan, nhận thức, vận độngAn overall assessment across language, communication, play, sensory processing, cognition and movement
Đánh giá chi tiết từng lĩnh vực: ngôn ngữ hiểu, ngôn ngữ diễn đạt, giao tiếp, chơi, vận động tinh, vận động thô, giác quan, nhận thứcA detailed assessment of each area: receptive and expressive language, communication, play, fine and gross motor, sensory processing, cognition
Hướng dẫn, giải thích về sự phát triển của trẻAn explanation of your child's development
Xác định khó khăn cốt lõi, thời gian và tần suất can thiệp, lĩnh vực ưu tiên, phương pháp phù hợpIdentifying the core difficulty, how long and how often, which areas to prioritise, which approach suits
Xây dựng kế hoạch cá nhân cho trẻ, với hệ thống mục tiêu rõ ràng, chi tiết, đo lường đượcA six-month intervention programme with clear, detailed, measurable goals
Gửi kế hoạch cho cha mẹ sau bảy ngày, không tính ngày nghỉ và ngày lễThe programme sent to parents within seven working days
Họp trực tiếp với cha mẹ từ 30 đến 45 phút để giải thích kế hoạch và trả lời băn khoănA 30 to 45 minute meeting in person with parents to explain the plan and answer questions
Còn học phí can thiệp?
And the intervention fee?
Học phí can thiệp không có một con số chung, vì số buổi mỗi con mỗi khác: có con học bán trú cả ngày, có con đến vài buổi một tuần. Sau buổi đánh giá, chuyên gia tư vấn số buổi phù hợp với con, và anh chị biết mức học phí cụ thể trước khi quyết định. Muốn biết trước, anh chị nhắn cho An qua Zalo. There is no single figure for intervention fees, because the number of sessions differs from child to child: some attend full day, others come a few sessions a week. After the assessment our specialist advises how many sessions suit your child, and you are given the exact fee before you decide. To ask beforehand, write to us on Zalo.

Chưa biết con mình hợp hình thức nào, anh chị nhắn cho An để được tư vấn.

If you are not sure which suits your child, write to us and we will advise.

Dịch vụ 2
Service 2

Huấn luyện cha mẹ

Parent coaching

Hướng dẫn 1–1 dành cho cha mẹOne-to-one coaching for parents

Chương trình hướng dẫn riêng cho từng gia đình, học trực tiếp tại trung tâm hoặc trực tuyến.

Coaching built for one family at a time, in person at the centre or online.

  • Anh chị được một chuyên viên kèm cặp riêng về kiến thức và kỹ năng, để đạt được các mục tiêu trong chương trình của con.
  • A specialist coaches you directly, in both knowledge and skill, towards the goals in your child’s programme.
  • Gồm buổi đánh giá để lên chương trình, và ít nhất năm đến mười buổi hướng dẫn trực tiếp một thầy một trò.
  • It includes an assessment to build the programme, and at least five to ten sessions of direct one-to-one coaching.
  • Người hướng dẫn anh chị là chuyên gia của An từ cấp quản lý ca trở lên.
  • You are coached by an AN specialist at case manager level or above.
Dịch vụ 3
Service 3

Can thiệp nhóm, học toàn thời gian

Group intervention, full day

Con học bán trú cả ngày. Trong một ngày, con có cả giờ học nhóm lẫn giờ học riêng.

Your child attends the full day, with both group sessions and individual sessions.

  • Chuyên viên can thiệp đánh giá và xây dựng kế hoạch cá nhân cho con, như ở can thiệp cá nhân.
  • The specialist assesses your child and builds a IFSP/IEP, as in one-to-one work.
  • Mỗi ngày con có hai giờ trị liệu nhóm, tập kéo dài thời gian chú ý, bắt chước, lắng nghe, chờ đến lượt, hiểu và làm theo luật chơi. Các kỹ năng này lấy từ kế hoạch cá nhân của con.
  • Each day includes two hours of group therapy, extending attention span, imitation, listening, turn-taking, and following the rules of a game. These skills come from the programme.
  • Mỗi ngày con có thêm hai đến ba giờ học riêng một cô một trò, cũng theo chương trình ấy.
  • Each day also includes two to three hours one to one, following the same programme.
Giờ nhóm ở AN dùng Attention Autism, ở Việt Nam hay gọi là “hộp háo hức”. Cô giáo mở ra những chiếc hộp có đồ vật bất ngờ, khiến cả nhóm cùng dõi theo một thứ trong khoảng thời gian dài dần lên. Từ chỗ cùng nhìn, con học được cách cùng chờ, cùng chơi. Group time uses Attention Autism, known here as the “excitement box”. The teacher opens boxes holding surprising objects, so the whole group follows one thing together for longer and longer. From looking together, children learn to wait together, and to play together.
Lớp nhóm
In the group

Học nhóm, nhưng mỗi con vẫn có chương trình riêng

A group, but each child keeps their own programme

Con học nhóm để có một cộng đồng bạn bè nhỏ, nơi con tập chờ, tập quan sát, tập bắt chước và tập lần lượt. Những kỹ năng ấy khó nảy sinh trong giờ học một mình.

Children learn in a group so they have a small community of peers, where they practise waiting, watching, imitating and taking turns. Those skills rarely come up in a session alone.

Nhóm cũng là nơi con dùng lại những gì vừa học trong giờ cá nhân: tập ăn, vệ sinh, tự phục vụ, nói với bạn.

The group is also where a child uses what they have just learnt one-to-one: eating, hygiene, self-care, talking to another child.

Số cô trong lớp luôn nhiều. Lớp khó nhất có 3 đến 6 con với 3 đến 5 cô. Lớp khá hơn giữ tỷ lệ một cô kèm 1,5 đến 1,75 con. Lớp con đã có ngôn ngữ khá và ít hành vi thì một cô kèm hai con.

There are always many teachers in the room. The most demanding class has three to six children with three to five teachers. Steadier classes run at one teacher to 1.5 or 1.75 children. Classes where children have more language and fewer behaviours run at one teacher to two children.

Nhờ vậy con không có khoảng thời gian trống nào trong ngày, và mỗi ngày con vẫn có ít nhất hai giờ học riêng theo chương trình của mình.

This way no part of your child's day is idle, and every day still holds at least two hours of individual work on their own programme.

Vì sao học cả ngày
Why a full day

Cường độ can thiệp quyết định con đi được đến đâu

Intensity decides how far a child gets

Trong tài liệu chuyên môn, cường độ can thiệp thường được chia ba mức: thấp 6–9 giờ một tuần, trung bình 16–19 giờ, cao 25–44 giờ.

Professional literature usually groups intervention intensity into three bands: low at 6–9 hours a week, moderate at 16–19, and high at 25–44.

Mô hình bán trú của AN cho con 30 giờ can thiệp mỗi tuần, nằm trong nhóm cao. Đó là lý do chúng tôi làm cả ngày thay vì vài buổi lẻ.

AN's full-day model gives a child thirty hours of intervention a week, within the high band. That is why we work all day rather than in occasional sessions.

18 tháng đầu là quan trọng nhất, vì đó là lúc con học ngôn ngữ và nhận thức nhanh nhất. Tăng giờ can thiệp sau một hai năm không bù lại được tốc độ học của giai đoạn này.

The first eighteen months matter most, because that is when language and cognition develop fastest. Adding hours a year or two later does not make up for the pace of that window.

Vận động và giác quan là gốc. Vận động ảnh hưởng tới mọi mặt phát triển khác, nên ngày nào của con cũng bắt đầu bằng vận động trị liệu và ổn định giác quan.

Movement and the senses come first. Movement affects every other area of development, so each of your child's days begins with movement therapy and sensory regulation.

Dịch vụ 4
Service 4

Nhóm giao tiếp xã hội

Social communication group

Nhóm dành cho con tập ở cùng bạn: chơi, bàn bạc, và xử lý những lúc không vừa ý.

A group where children practise being with other children: playing, discussing, and handling moments that do not go their way.

  • Con tập giao tiếp xã hội, làm việc nhóm, thảo luận nhóm, chơi trò chơi và hiểu luật.
  • Children practise social communication, working and talking in a group, playing games and following rules.
  • Con tập giải quyết xung đột, và tập dùng lời để nói ra những cảm xúc khó chịu thay vì bùng lên.
  • Children practise resolving conflict, and using words for difficult feelings instead of erupting.
Nhóm này cũng ứng dụng Floortime, nhưng ở mức cao hơn: thay vì một cô một trò, con phải đọc được ý bạn, chờ bạn, và thương lượng với bạn. This group also draws on Floortime, but at a higher level: instead of one adult and one child, your child has to read another child, wait for them, and negotiate.
Dịch vụ 5
Service 5

Can thiệp cá nhân

One-to-one intervention

Con học riêng với một chuyên viên, theo đúng kế hoạch cá nhân của con.

Your child works with one specialist, following their own IFSP/IEP.

  • Chuyên viên can thiệp đánh giá và xây dựng kế hoạch cá nhân, gồm các lĩnh vực can thiệp ưu tiên với hệ thống mục tiêu con sẽ được can thiệp.
  • The specialist assesses your child and builds the IFSP/IEP, covering the priority areas with a set of goals to work towards.
  • Con học một cô một trò cùng chuyên viên, dựa trên kế hoạch cá nhân của mình.
  • Your child works one to one with the specialist, following that programme.
  • Chúng tôi tập trung vào khó khăn cốt lõi của từng con, không dạy dàn trải.
  • We work on each child’s core difficulty, rather than spreading thin.
Mọi trẻ ở AN đều học theo Floortime, một phần hoặc toàn phần tuỳ đặc điểm của con. Floortime là cách chơi cùng trẻ bằng việc đi theo hứng thú của chính trẻ, xây mối quan hệ trước rồi kỹ năng theo sau. Đây là phương pháp được dùng rộng rãi trên thế giới và có nhiều nghiên cứu đi kèm. Every child at AN learns through Floortime, in part or in full depending on their needs. Floortime means playing with a child by following the child’s own interests, building the relationship first and letting skills follow. It is widely used internationally and well researched.
Làm được ngay
What you can do now

Bốn việc anh chị làm được tối nay

Four things you can do tonight

Trong lúc chờ đến buổi hẹn, bốn việc này không cần chuyên môn, và giúp buổi đánh giá của con chính xác hơn.

While you wait for your appointment, these four need no training, and they make your child’s assessment more accurate.

01
Điền bảng sàng lọc M-CHAT-R
Fill in the M-CHAT-R screening checklist
Dành cho trẻ 16–30 tháng. Anh chị chỉ làm phần bảng hỏi 20 câu, mỗi câu trả lời Có hoặc Không, hết khoảng năm phút. Những trang phía sau ghi Đạt / Không đạt là phần phỏng vấn dành cho nhà chuyên môn, anh chị bỏ qua. In ra, điền, rồi mang theo buổi đánh giá.
Tải bản tiếng Việt (PDF) →
For children aged 16–30 months. Complete only the 20-question checklist, answering Yes or No to each, about five minutes. The later pages marked Pass / Fail are the follow-up interview for professionals — skip those. Print it, fill it in, and bring it to the assessment.
Download the Vietnamese edition (PDF) →
Robins, Fein & Barton · bản tiếng Việt: CCIHP dịch, Ths. Nguyễn Thị Nha Trang biên tập, tháng 6 năm 2015
Robins, Fein & Barton · Vietnamese edition: translated by CCIHP, edited by Nha Trang Nguyen, M.S., June 2015
02
Ghi lại con nói được những từ nào
Write down every word your child says
Một tờ giấy dán trên tủ lạnh. Mỗi từ con nói được thì ghi từ đó kèm ngày. Cả những từ nói chưa tròn cũng ghi.

Sau hai tuần anh chị có một danh sách thật để đưa chuyên gia xem, thay vì phải cố nhớ trong buổi đánh giá.
A sheet of paper on the fridge. Each time your child says a word, write it down with the date — including words that come out only half formed.

After two weeks you have a real list to show the specialist, instead of trying to remember on the day.
03
Mười lăm phút chơi vui vẻ cùng con mỗi ngày
Fifteen minutes of happy play every day
Ngồi xuống sàn, ngang tầm mắt con. Theo trò con đang chơi, đừng đổi sang trò mình muốn dạy. Con xin đồ gì thì chờ con nhìn vào mắt mình rồi mới đưa.

Mười lăm phút mỗi ngày, đều đặn, có sức nặng hơn một buổi dài cuối tuần.
Sit on the floor, at your child’s eye level. Follow the game they are already playing; do not switch to the one you want to teach. When they ask for something, wait for them to look at you before you hand it over.

Fifteen minutes every day carries more weight than one long session at the weekend.
04
Viết sẵn câu hỏi mang đi khám
Write your questions down before you come
Trong buổi đánh giá có nhiều thứ để nghe, và anh chị dễ quên điều mình định hỏi. Ghi ra ba điều anh chị lo nhất về con, mang theo.
There is a lot to take in during an assessment, and it is easy to forget what you meant to ask. Write down the three things that worry you most, and bring the list.
Bài viết
Articles

Bài viết cho cha mẹ

Articles for parents

Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 1/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 1 of 9
Não bộ khác biệt: vì sao hành vi của con lại như vậyA neurodivergent brain: why your child behaves the way they do
Giác quan, chức năng điều hành và ngôn ngữ — ba lý do đứng sau hành vi khó hiểu.
Senses, executive function and language — the three reasons behind puzzling behaviour.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 2/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 2 of 9
Đừng cố dạy khi con chưa sẵn sàngDo not try to teach when your child is not ready
Vùng ổn định của con, và cách đọc tín hiệu để biết khi nào nên dạy, khi nào nên dừng.
Your child's window of tolerance, and how to read the signals.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 3/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 3 of 9
Hành vi là cách con giao tiếp với chúng taBehaviour is how your child talks to us
Đằng sau mỗi hành vi là một thông điệp. Cách đọc thông điệp đó.
Behind every behaviour is a message. How to read it.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 4/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 4 of 9
Khi nào thì ôm, khi nào thì nghiêm?When to hold your child, and when to hold firm
Phân biệt cơn quá tải và cơn ăn vạ, và ứng xử khác nhau với hai thứ đó.
Telling a meltdown from a tantrum, and responding differently to each.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 5/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 5 of 9
Cha mẹ ổn định, con mới ổn địnhWhen parents stay calm, the child can stay calm
Đồng điều chỉnh, tác nhân gây căng thẳng của chính mình, và kỹ thuật ba mươi giây.
Co-regulation, your own stress triggers, and a thirty-second technique.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 6/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 6 of 9
Đồng điều chỉnh: cùng con vượt qua cơn bão cảm xúcCo-regulation: riding out the emotional storm with your child
Làm gì trong lúc con đang trong cơn, và làm gì sau khi cơn qua.
What to do during a meltdown, and what to do once it passes.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 7/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 7 of 9
Khoa học về dạy con tự điều chỉnh cảm xúcThe science of teaching your child to self-regulate
Vì sao tự điều chỉnh phải học sau đồng điều chỉnh, không phải trước.
Why self-regulation is learned after co-regulation, not before.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 8/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 8 of 9
Công cụ và thực hành dạy con tự điều chỉnhTools and practice for teaching your child self-regulation
Ba bước và những công cụ cụ thể, tập lúc con vui chứ không phải lúc con khó.
Three steps and concrete tools, practised when your child is calm.
Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · bài 9/9When to hold your child, and when to hold firm · Part 9 of 9
Mình cũng cần được chăm sócI need looking after too
Chăm sóc bản thân cho cha mẹ, viết cho hoàn cảnh thật của gia đình Việt.
Self-care for parents, written for the real circumstances of Vietnamese families.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 1/5The pointing series · Part 1 of 5
Tại sao chương trình của con lại có “dạy chỉ tay”?Why does your child's programme include “teaching pointing”?
Ba mục đích của việc chỉ tay, và cái nào khó hơn với trẻ tự kỷ.
The three purposes of pointing, and which is harder for autistic children.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 2/5The pointing series · Part 2 of 5
Chỉ tay có phải cách duy nhất để con yêu cầu và chia sẻ?Is pointing the only way your child can request and share?
Kéo tay, nhìn luân phiên, mang đồ đến khoe — những cách khác cũng có giá trị.
Leading by the hand, alternating gaze, bringing things to show — these count too.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 3/5The pointing series · Part 3 of 5
Con đã sẵn sàng học chỉ tay chưa?Is your child ready to learn pointing?
Hai câu hỏi để tự đánh giá, và những đặc điểm riêng ảnh hưởng đến việc học.
Two questions to check readiness, and what can affect learning to point.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 4/5The pointing series · Part 4 of 5
Chỉ tay: một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh giao tiếp lớnPointing: one small piece of a much larger communication picture
Đổi câu hỏi từ “con có biết chỉ tay không” sang “con có giao tiếp được không”.
Changing the question from can my child point to can my child communicate.
Chuỗi bài về chỉ tay · bài 5/5The pointing series · Part 5 of 5
Bản đồ phát triển giao tiếp: con mình đang ở đâu?A map of communication development: where is my child right now?
Năm cấp độ giao tiếp, và ở cấp nào thì dạy chỉ tay là đúng lúc.
Five levels of communication, and when teaching pointing is well timed.
Cường độ can thiệp: bao nhiêu giờ một tuần là đủ?Intensity of intervention: how many hours a week is enough?
Tổng hợp nghiên cứu về số giờ can thiệp theo mức độ khó khăn của trẻ.
A summary of the research on intervention hours by level of need.
Tám hệ giác quan của conYour child's eight sensory systems
Thị giác, khứu giác, tiền đình, vùng miệng, thính giác, bản thể, xúc giác và hệ nội cảm.
Vision, smell, vestibular, oral, hearing, proprioception, touch and interoception.
Floortime và Aner nhíFloortime and the little Aners
Một buổi chơi với bình xịt nước ở nhà An, và câu hỏi cô giáo đặt ra sau đó.
A session with a water sprayer at AN, and the question the teacher asked afterwards.
Tại sao trẻ tự kỷ đi can thiệp mà không có sự tiến bộ?Why do some autistic children go to intervention and make no progress?
Bốn yếu tố quyết định kết quả can thiệp, kèm nghiên cứu về cường độ giờ can thiệp trong 18 tháng đầu.
The four factors that decide the outcome, with research on intervention intensity in the first eighteen months.
Thực phẩm và rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷFood and sensory processing difficulties in autistic children
Ba cơ chế thực phẩm tác động đến giác quan, và những điều cần hỏi bác sĩ trước khi đổi chế độ ăn của con.
Three ways food affects sensory processing, and what to ask a doctor before changing your child's diet.
Hiểu về chứng tự học đọc ở trẻUnderstanding hyperlexia in children
Con đọc chữ rất sớm. Khi nào là năng khiếu, khi nào là dấu hiệu cần lưu ý.
Your child reads very early. When it is a gift, and when it is a sign to look into.
Con bỗng bỏ chơi giữa chừng: hiểu về “quá tải”Your child suddenly walks away mid-play: understanding “overload”
Con đang chơi vui thì chạy ra ngoài xoay tròn. Vì sao, và làm gì để con quay lại trò chơi.
Your child is playing happily, then runs off and spins. Why it happens, and how to bring them back.
Ngừng nói “Bình tĩnh lại”Stop saying “Calm down”
Những câu nên nói thay, khi con đang căng thẳng, buồn bã hay tức giận.
What to say instead when your child is tense, upset, or angry.
5 cách giúp trẻ tự kỷ ngủ ngonFive ways to help an autistic child sleep well
Làm được ngay ở nhà, bắt đầu từ giờ đi ngủ cố định.
Things you can do at home, starting with a fixed bedtime.
Dạy trẻ 2–3 tuổi kiểm soát cảm xúc và giao tiếpTeaching children aged 2–3 to manage their emotions and communicate
Kỹ năng xã hội và cảm xúc là gì, và dạy con thế nào ở tuổi lên hai lên ba.
What social-emotional skills are, and how to teach them at two and three.
Chứng nhại lời ở trẻ tự kỷEcholalia in autistic children
Con lặp lại nguyên câu của người khác. Đó là dấu hiệu gì, và hỗ trợ con thế nào.
Your child repeats whole phrases they hear. What it signals, and how to support them.
Việc dùng thuốc cho trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diệnMedication for children with profound autism
Ghi chép từ chương 15 cuốn Profound Autism, về thuốc và những hỗ trợ đi kèm.
Notes from chapter 15 of Profound Autism, on medication and the support around it.
Hỏi đáp
FAQ

Những câu cha mẹ hay hỏi

What parents ask us

Trước buổi đánh giá đầu tiên
Before the first assessment
Khi nào thì tôi nên cho con đi khám?
When should I have my child assessed?
Mỗi đứa trẻ lớn lên theo nhịp riêng, nên không có một mốc cứng cho mọi con. Nhưng nếu con có vài dấu hiệu ở đúng mốc tuổi của con — chưa bi bô ở 12 tháng, chưa nói từ nào có nghĩa ở 18 tháng, chưa ghép hai từ ở 24 tháng — thì anh chị nên cho con đi đánh giá. Đặc biệt, nếu con từng nói được vài từ, từng nhìn vào mắt, từng chơi cùng người khác rồi mất đi, anh chị nên cho con đi khám sớm.
Every child grows at their own pace, so there is no single cut-off. But if your child shows several of the signs for their age — not babbling at 12 months, no meaningful words at 18 months, not putting two words together at 24 months — it is worth having them assessed. And if your child once said a few words, once made eye contact, once played with others, and has lost that, come sooner.
Con chưa có chẩn đoán thì đến được không?
My child has no diagnosis yet. Can we still come?
Được. Buổi đánh giá chính là để biết con đang ở đâu so với các mốc phát triển. Anh chị không cần có giấy tờ gì trước.
Yes. The assessment is how we find out where your child stands against developmental milestones. You do not need any paperwork beforehand.
Trung tâm nhận trẻ mấy tuổi?
What ages do you take?
Trẻ từ 12 đến 72 tháng, với bốn nhóm khó khăn: chậm phát triển ngôn ngữ, rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp, tăng động giảm chú ý, và tự kỷ.
Children from 12 to 72 months, in four groups: language delay, language and communication disorders, ADHD, and autism.
Chi phí đánh giá thế nào?
What does an assessment cost?
Có hai hình thức: đánh giá và tư vấn về phát triển, định hướng can thiệp 2.000.000đ; đánh giá kèm xây dựng kế hoạch cá nhân cho trẻ 5.000.000đ. Bảng so sánh hai hình thức nằm ở trang Dịch vụ và chương trình. Chưa biết con mình hợp hình thức nào thì anh chị nhắn cho An để được tư vấn.
Two options: assessment with guidance on development and a direction for intervention at 2,000,000 VND; assessment with a six-month intervention programme at 5,000,000 VND. A comparison of the two is on the Services and programme page. If you are not sure which suits your child, write to us and we will advise.
Đặt lịch thế nào?
How do I book?
Anh chị nhắn cho An qua Zalo 076 200 8836 hoặc Facebook để được tư vấn thêm và hỗ trợ đặt lịch hẹn khám cho con.
Write to us on Zalo at 076 200 8836 or on Facebook, and we will advise you and arrange an appointment.
Liên hệ
Contact

Nếu anh chị có bất cứ câu hỏi nào, hãy nhắn cho An.

If you have any question at all, write to us.

Đường đi
Getting here
Số 4 BT2 Vinaconex 3, Trung Văn,
phường Đại Mỗ, Hà Nội
Điện thoại & Zalo
Phone & Zalo
076 200 8836
zalo.me/0762008836
Facebook
trungtamanhanoi
Giờ làm việc
Opening hours
Thứ Hai – Thứ Sáu
8:00 – 18:00
Thứ Bảy
8:00 – 17:00
Monday – Friday
8:00 – 18:00
Saturday
8:00 – 17:00
Tất cả bài viếtAll articles

Floortime và Aner nhíFloortime and the little Aners

Ghi chép của một Aner, Nguyễn Thị Nha Trang biên tậpAn Aner’s account, edited by Nguyen Thi Nha Trang

Những pha gây cười chảy nước mắt ở nhà An. Khi cô tạo cơ hội con cũng đón nhận nhưng theo 1 kiểu rất là lạ.The moments at AN that make you laugh until you cry. The teacher creates an opportunity, the child does take it up — but in a very odd way of his own.

Chị ơi em kể xong nốt chuyện này rồi mình hãy nghỉ trưa nhé. Hôm nay khi em dậy bạn bạn S về giải quyết vấn đề và tạo ý tưởng mới. Trong trò chơi với bình xịt nước khi con cầm chiếc bình xịt lên và xịt xịt vào không khí rồi xịt xịt vào em, em đã cầm 1 tấm vải chắn lên giả vờ che chắn cho em đỡ bị bị ướt.Let me finish telling you this one and then we'll break for lunch. Today I was working with S on problem-solving and coming up with new ideas. We were playing with a spray bottle, and when S picked the bottle up and sprayed into the air and then sprayed at me, I held up a piece of cloth as a shield and pretended to keep myself from getting wet.

Lúc này S thích thú lắm, con nhìn thấy tấm vải bị ướt rồi nên đã quên mất việc chơi với em và chuyển sang xịt nước lên tấm vải để làm nó ướt. Vừa xịt nước vừa nói cười khúc khích.S was thrilled. He saw that the cloth was already wet, so he forgot all about playing with me and switched to spraying water onto the cloth to make it wetter. Spraying away, talking and giggling.

Em thấy cơ hội này là trượt rồi nên đã tạo ra 1 cơ hội khác. Trong lần chơi tiếp theo, em dùng 1 chiếc nắp đậy của thùng đồ chơi, giơ lên, che người em nói: không cho xịt nước vào người cô đâu ướt hết áo rồi. Lúc này em cố tình nói như vậy để xem con sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào.I could see that opportunity had slipped away, so I created another one. The next time round I took the lid of the toy box, held it up in front of me and said: no spraying water at me, my shirt is soaked already. I said it on purpose, to see how he would solve this problem.

Điều em mong muốn đó là năng lực giải quyết vấn đề và biểu cảm của con. Em muốn nhìn xem con thực sự có thể đồng cảm với việc 1 người có thể bị ướt áo khi còn chơi trò chơi xịt nước hay không.What I was hoping to see was his problem-solving and his emotional expression. I wanted to see whether he could really empathise with the idea that a person can end up with a wet shirt during a water-spraying game.

Nhưng chị biết không lúc này con phản ứng khiến cho tụi em dở khóc dở cười. Đó là con nhìn thấy nước chảy ở trên nắp thùng thú vị quá nên lại cầm chiếc nắp thùng xịt nước vào đó để ngắm nhìn dòng nước chảy.But do you know what happened? His response left us not knowing whether to laugh or cry. He found the water running down the lid so interesting that he took hold of the lid, sprayed water onto it and watched the water run.

(Quả là bất ngờ này đến bất ngờ khác, các con nhà chúng tôi phản ứng lại với các trò chơi, thật sự… theo 100, 1000 kiểu…rất…không thể nào ngờ).(One surprise after another. Our children respond to these games in, honestly… a hundred, a thousand different ways… completely… impossible to predict.)

Đây là cảm giác rất dễ gặp đối với những người thực hành về chơi theo phong cách Floortime. Chúng tôi sẽ tạo ra các cơ hội và phán đoán phản ứng của trẻ đồng thời dựa vào phản ứng của chúng mà đưa ra bước hỗ trợ tiếp theo phù hợp hơn.This is a very familiar feeling for anyone who practises play in the Floortime style. We create opportunities and we anticipate how the child will respond, and then, based on that response, we offer a next step of support that fits better.

Tuy là chơi vui vẻ, nhưng lại mang ý nghĩa cho cuộc sống của trẻ, cũng thách thức sự phát triển của con.It is play, and it is fun, but it also carries meaning for the child's life, and it stretches the child's development.

Trong tình huống này bé hẳn là đang chơi rất vui và cô giáo chắc cũng có 1 pha cười chảy nước mắt, tuy nhiên nếu như chúng ta nhìn vào bối cảnh của trò chơi này bạn có đánh giá được rằng đứa nhỏ trong tình huống cô giáo kể ở trên có khả năng để giải quyết vấn đề mà cô giáo đưa ra chưa?In this situation the child was clearly having a lovely time, and the teacher certainly had a laugh-until-you-cry moment of her own. But if we look at the context of this game, can you tell whether the child in the story the teacher told is yet able to solve the problem she set him?

Bé đã có khả năng đồng cảm với những cảm xúc của người khác chưa?Is he yet able to empathise with another person's feelings?

Nếu bạn nhỏ có thể nhận ra rằng làm ướt áo người khác khiến người khác khó chịu đấy hoặc là khi người khác phản đối 1 việc nào đó con nên phải phản ứng lại đáp lại như thế nào thì, em bé trong câu chuyện này sẽ thể hiện như thế nào nhỉ?If the child were able to recognise that getting someone else's shirt wet makes that person uncomfortable, or to work out how he should respond when someone objects to something, how would the child in this story have shown it?

Cho chúng mình biết suy nghĩ của bạn ở dưới comment nhé.Tell us what you think in the comments.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Tại sao trẻ tự kỷ đi can thiệp mà không có sự tiến bộ?Why do some autistic children go to intervention and make no progress?

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Dù đã đầu tư nhiều thời gian, công sức và tài chính khi cho con đi can thiệp nhưng chưa phải lúc nào kết quả cũng đạt được như bố mẹ mong đợi. Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng can thiệp của con?You have put a great deal of time, effort and money into taking your child to intervention, and still the results are not always what you hoped for. So what are the factors that shape the quality of your child's intervention?

Cùng An tìm hiểu những yếu tố tác động đến quá trình can thiệp dưới góc nhìn khoa học.Let me walk you through the factors that affect the intervention process, from a scientific point of view.

Đánh giá chính xác sự phát triển và can thiệp vào khó khăn cốt lõi của trẻ.Assessing development accurately, and intervening on the child's core difficulties

Theo nghiên cứu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), đánh giá phát triển toàn diện và sâu sát là bước đầu tiên để thiết lập một chương trình can thiệp hiệu quả. Việc này bao gồm đánh giá các lĩnh vực phát triển của trẻ như ngôn ngữ, tương tác xã hội, vận động, tự phục vụ... Từ đó nhận diện khó khăn cốt lõi của trẻ, xác định những lĩnh vực ưu tiên can thiệp. Nếu việc đánh giá và nhận diện những khó khăn cốt lõi không chính xác thì việc can thiệp sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn. Nghiên cứu của National Autism Center chỉ ra rằng các chương trình nhấn mạnh vào khó khăn cốt lõi thường mang lại hiệu quả lâu dài hơn.According to research from the Centers for Disease Control and Prevention (CDC), a thorough, in-depth developmental assessment is the first step towards setting up an effective intervention programme. That means assessing the child across developmental domains — language, social interaction, motor skills, self-care and so on. From there you can recognise the child's core difficulties and decide which areas the intervention should prioritise. If the assessment does not identify those core difficulties accurately, the intervention will not achieve the results you want. Research from the National Autism Center shows that programmes which concentrate on the core difficulties tend to produce longer-lasting results.

Cường độ và tần suất can thiệp.Intensity and frequency of intervention

Thời gian can thiệp không đủ hoặc không đều đặn có thể ảnh hưởng đến tốc độ tiến bộ của trẻ. Không chỉ vậy, từng mức độ khác nhau cũng sẽ cần cường độ can thiệp khác nhau. Theo Lord & McGee, 2001, “25-30 h/tuần, can thiệp 1-1 trong 1-2 năm đầu là bắt buộc để có được những cải thiện về những khiếm khuyết cốt lõi của tự kỷ”. Một số cha mẹ thích bắt đầu bằng 10-20 h trị liệu/tuần sau đó tăng dần thời lượng sau khi trẻ có được những thành tựu được cho là hướng đi không phù hợp. Một yếu tố cực kỳ quan trọng cần ghim trong đầu là những kỹ năng nhận thức, ngôn ngữ, kỹ năng xã hội chủ chốt được phát triển trong 18 tháng can thiệp đầu tiên. Việc tăng cường thời gian can thiệp sau 1-2 năm không thể bù lại được với tốc độ học và sự phát triển của não bộ trong những giai đoạn trước đó.When the amount of intervention time is not enough, or not regular, it can affect how quickly a child progresses. And each level of need calls for a different intensity of intervention. According to Lord & McGee, 2001, “25–30 hours a week of 1-to-1 intervention during the first 1–2 years is required in order to see improvement in the core deficits of autism”. Some parents prefer to start with 10–20 hours of therapy a week and then increase the hours once the child has made some gains — and that is considered the wrong way round. One factor worth pinning firmly in your mind is that the key cognitive, language and social skills are built during the first 18 months of intervention. Increasing intervention hours after 1–2 years cannot make up for the rate of learning and brain development of those earlier stages.

Tìm hiểu thêm về “cường độ can thiệp tương ứng với mức độ tự kỷ” qua bài viết dưỡi đây: https://short.com.vn/rUGvYou can read more about “the intensity of intervention that matches the level of autism” in the article here: https://short.com.vn/rUGv

Phương pháp can thiệp phù hợp.An intervention method that fits the child

Mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, vì vậy, việc lựa chọn phương pháp can thiệp cần phù hợp với nhu cầu cụ thể. Theo nghiên cứu đến từ Applied Behavior Analysis (ABA), những phương pháp can thiệp có tính cá nhân hóa và linh hoạt sẽ mang lại kết quả tích cực hơn so với phương pháp được áp dụng một cách cứng nhắc.Every child is an individual, so the intervention method has to be chosen to fit that child's particular needs. According to research from Applied Behavior Analysis (ABA), intervention methods that are individualised and flexible bring more positive results than methods applied rigidly.

Sự phối hợp của nhà chuyên môn và gia đình.Collaboration between the professional and the family

Nghiên cứu từ Hiệp hội Tự kỷ Hoa Kỳ (Autism Society of America) khẳng định rằng sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà chuyên môn và gia đình là yếu tố quyết định trong hiệu quả can thiệp. Cha mẹ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để duy trì việc can thiệp tại nhà, đồng thời nhận sự hỗ trợ tích cực từ các chuyên gia.Research from the Autism Society of America confirms that close collaboration between the professional and the family is the decisive factor in how effective an intervention is. Parents need to be equipped with the knowledge and the skills to keep the intervention going at home, and to receive active support from professionals at the same time.

Trẻ tự kỷ hoặc chậm nói có thể không tiến bộ trong can thiệp do nhiều nguyên nhân, từ việc đánh giá không chính xác, cường độ can thiệp chưa đủ, phương pháp chưa phù hợp, đến sự thiếu phối hợp từ gia đình. Tuy nhiên, việc hiểu đúng và khắc phục những yếu tố này có thể giúp trẻ đạt được những bước tiến ý nghĩa trong quá trình phát triển.An autistic child or a child with delayed speech may fail to progress in intervention for many reasons: an inaccurate assessment, an intensity of intervention that is not enough, a method that does not fit, or a lack of collaboration from the family. But once you understand these factors properly and put them right, your child can make meaningful steps forward in their development.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Thực phẩm và rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷFood and sensory processing difficulties in autistic children

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Cơ chế tác động của thực phẩm đến vấn đề rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷHow food affects sensory processing difficulties in autistic children

Rối loạn giác quan ở trẻ tự kỷ có thể biểu hiện qua tính quá nhạy cảm hoặc kém nhạy cảm với các kích thích như âm thanh, ánh sáng, xúc giác và mùi vị. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực phẩm có thể ảnh hưởng đến các biểu hiện này thông qua ba cơ chế chính:Sensory processing difficulties in autistic children can show up as being over-responsive or under-responsive to input such as sound, light, touch, smell and taste. A number of studies have shown that food can affect how these difficulties present, through three main mechanisms:

Tác động lên hệ thần kinh trung ương: Một số thành phần thực phẩm có khả năng thay đổi chức năng thần kinh, ảnh hưởng đến cách trẻ xử lý thông tin giác quan.Acting on the central nervous system: some food components can alter neurological function, which affects the way a child processes sensory information.

Ảnh hưởng qua trục ruột-não: Sanctuary và cộng sự (2020) đã chứng minh mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và chức năng não bộ. Các rối loạn tiêu hóa và mất cân bằng vi sinh vật có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề giác quan.Acting through the gut–brain axis: Sanctuary et al. (2020) demonstrated the link between the gut microbiome and brain function. Digestive problems and an imbalanced microbiome can make sensory difficulties worse.

Gây phản ứng viêm và miễn dịch: Barnhill và cộng sự (2018) đã phát hiện rằng dị ứng hoặc không dung nạp thực phẩm có thể kích hoạt các phản ứng viêm toàn thân, từ đó ảnh hưởng đến hệ thần kinh và khả năng xử lý giác quan.Triggering inflammatory and immune responses: Barnhill et al. (2018) found that food allergy or intolerance can trigger systemic inflammatory responses, which in turn affect the nervous system and the ability to process sensory input.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng thực phẩm KHÔNG phải là nguyên nhân duy nhất của rối loạn giác quan và mỗi trẻ có thể phản ứng khác nhau với các can thiệp về chế độ ăn.It does need to be stressed, however, that food is NOT the only cause of sensory processing difficulties, and that each child may respond differently to dietary interventions.

Các phương pháp dinh dưỡng được khoa học hỗ trợ.Nutritional approaches with scientific support.

Chế độ ăn không gluten và casein (GFCF)The gluten-free, casein-free (GFCF) diet

Whiteley và cộng sự (2018) đã tiến hành nghiên cứu về tác động của việc loại bỏ gluten (có trong lúa mì, lúa mạch, yến mạch) và casein (có trong sữa) đối với trẻ tự kỷ. Kết quả cho thấy việc áp dụng chế độ ăn GFCF có thể cải thiện vấn đề giác quan ở một số trẻ. Bổ sung cho phát hiện này, Lau và cộng sự (2016) cũng tìm thấy mối liên hệ giữa độ nhạy cảm với gluten và các triệu chứng ở trẻ tự kỷ.Whiteley et al. (2018) studied the effect of removing gluten (found in wheat, barley and oats) and casein (found in milk) for autistic children. The results showed that following the GFCF diet can improve sensory difficulties in some children. Adding to this finding, Lau et al. (2016) also found a link between gluten sensitivity and symptoms in autistic children.

Lưu ý quan trọng: Chế độ ăn GFCF cần được thực hiện dưới sự giám sát của chuyên gia dinh dưỡng để đảm bảo trẻ vẫn nhận đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu.An important note: the GFCF diet needs to be carried out under the supervision of a dietitian, so that the child still receives all the nutrients they need.

Bổ sung omega-3Omega-3 supplementation

Theo phân tích tổng hợp của Mazahery và cộng sự (2017), các axit béo omega-3 đóng vai trò quan trọng trong phát triển não bộ và chức năng thần kinh. Nghiên cứu này đã chứng minh rằng việc bổ sung omega-3 có thể cải thiện đáng kể khả năng xử lý giác quan và tập trung ở trẻ tự kỷ. Nguồn omega-3 tự nhiên bao gồm cá béo, hạt lanh và các loại hạt.According to the meta-analysis by Mazahery et al. (2017), omega-3 fatty acids play an important role in brain development and neurological function. That study showed that omega-3 supplementation can significantly improve sensory processing and concentration in autistic children. Natural sources of omega-3 include oily fish, flaxseed and nuts.

Giảm phụ gia thực phẩm và đường tinh luyệnCutting back on food additives and refined sugar

Cekici và Sanlier (2019) đã tổng hợp các phương pháp dinh dưỡng trong quản lý tự kỷ và phát hiện rằng chất bảo quản, chất tạo màu nhân tạo và đường tinh luyện có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề giác quan. Việc giảm tiêu thụ các thành phần này thường mang lại tác động tích cực đến hành vi và khả năng xử lý cảm giác ở trẻ.Cekici and Sanlier (2019) reviewed nutritional approaches in the management of autism and found that preservatives, artificial colourings and refined sugar can make sensory difficulties worse. Reducing how much of these a child takes in often has a positive effect on behaviour and on sensory processing.

Cân bằng vi khuẩn đường ruộtBalancing the gut bacteria

Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và não bộ đã được chứng minh rõ ràng trong nghiên cứu của Li và cộng sự (2019). Grimaldi và cộng sự (2018) đã tiến hành can thiệp bằng prebiotic ở trẻ tự kỷ và nhận thấy những cải thiện đáng kể. Bổ sung cho điều này, Ristori và cộng sự (2019) đã tổng hợp bằng chứng về tác động tích cực của các can thiệp dinh dưỡng đến hệ vi sinh vật đường ruột và các triệu chứng tự kỷ, bao gồm cả vấn đề giác quan.The link between the gut microbiome and the brain was clearly demonstrated in the study by Li et al. (2019). Grimaldi et al. (2018) carried out a prebiotic intervention with autistic children and observed significant improvements. Adding to this, Ristori et al. (2019) reviewed the evidence on the positive effects of nutritional interventions on the gut microbiome and on autism symptoms, including sensory difficulties.

Hướng dẫn cho phụ huynhGuidance for parents

Trước khi thay đổi chế độ ănBefore you change the diet

Tham khảo ý kiến chuyên gia: Sharp và cộng sự (2018) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham vấn bác sĩ nhi khoa, bác sĩ chuyên khoa và chuyên gia dinh dưỡng trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi đáng kể nào trong chế độ ăn của trẻ.Consult a professional: Sharp et al. (2018) stress how important it is to consult a paediatrician, a specialist doctor and a dietitian before making any significant change to a child's diet.

Đánh giá cá nhân hóa: Xét nghiệm dị ứng/không dung nạp thực phẩm và đánh giá tình trạng dinh dưỡng là bước quan trọng để xác định những thực phẩm cụ thể có thể gây vấn đề cho trẻ, như được đề xuất bởi Lau và cộng sự (2016).Assess each child individually: testing for food allergy and intolerance, and assessing nutritional status, are important steps in identifying the specific foods that may be causing problems for a child, as recommended by Lau et al. (2016).

Quan sát và ghi chép: Việc lưu ý mối liên hệ giữa thực phẩm cụ thể và hành vi/phản ứng giác quan của trẻ được tất cả các nghiên cứu đề cập ở trên khuyến nghị. Nhật ký thực phẩm là công cụ hữu ích để theo dõi những mối liên hệ này.Observe and keep records: noting the link between particular foods and your child's behaviour or sensory responses is recommended by every one of the studies mentioned above. A food diary is a useful tool for tracking those links.

Khi thực hiện thay đổi chế độ ănWhen you make changes to the diet

Đặc biệt với trẻ tự kỷ có rối loạn giác quan và thói quen ăn chọn lọc, việc thay đổi chế độ ăn cần được tiếp cận cẩn thận:With autistic children who have sensory processing difficulties and selective eating habits in particular, changes to the diet need to be approached carefully:

Thay đổi từng bước nhỏ: Thay đổi một thực phẩm tại một thời điểm để trẻ có thể thích nghi dần dần.Change in small steps: change one food at a time, so that your child can adjust gradually.

Duy trì các món ăn ưa thích an toàn: Đảm bảo trẻ vẫn có một số món ăn quen thuộc, không gây phản ứng bất lợi.Keep the safe, preferred foods: make sure your child still has some familiar foods that do not cause an adverse reaction.

Sử dụng chiến lược cầu nối: Giới thiệu thực phẩm mới có đặc tính tương tự (màu sắc, kết cấu, hình dạng) với thực phẩm mà trẻ đã quen thuộc.Use a bridging strategy: introduce new foods that have similar properties (colour, texture, shape) to foods your child is already used to.

Tạo môi trường ăn uống thoải mái: Giảm thiểu các kích thích gây xao nhãng và áp lực trong bữa ăn.Create a comfortable eating environment: keep distracting input and mealtime pressure to a minimum.

Sử dụng hỗ trợ trực quan: Lịch trình bằng hình ảnh, bảng lựa chọn thực phẩm giúp trẻ cảm thấy an tâm hơn với những thay đổi.Use visual supports: a picture schedule or a food choice board helps a child feel more settled about the changes.

Theo dõi những dấu hiệu tích cực và tiêu cực.Watch for the positive signs and the negative ones.

Dấu hiệu tích cực:Positive signs:

Cải thiện khả năng tập trung và chú ýBetter concentration and attention

Giảm phản ứng quá mức với kích thích giác quanFewer over-responsive reactions to sensory input

Cải thiện giao tiếp và tương tác xã hộiBetter communication and social interaction

Giảm các vấn đề tiêu hóaFewer digestive problems

Dấu hiệu tiêu cực cần cảnh giác:Negative signs to watch out for:

Từ chối ăn kéo dài dẫn đến giảm cânProlonged food refusal leading to weight loss

Gia tăng lo lắng hoặc căng thẳngMore anxiety or tension

Xuất hiện hoặc tăng các hành vi tự kích thíchSelf-stimulatory behaviours appearing or increasing

Rối loạn giấc ngủDisrupted sleep

Nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu tiêu cực nghiêm trọng nào, hãy dừng thay đổi và tham khảo ý kiến chuyên gia.If any serious negative sign appears, stop making changes and consult a professional.

Vai trò của giáo viên và nhà trườngThe role of teachers and the school

Giáo viên và nhân viên nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ có chế độ ăn đặc biệt:Teachers and school staff play an important part in supporting a child who is on a special diet:

Duy trì giao tiếp với gia đình: Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về chế độ ăn của trẻ và những phản ứng quan sát được tại trường.Keep in touch with the family: talk with parents regularly about the child's diet and about the responses observed at school.

Tạo môi trường hỗ trợ: Có không gian ăn uống phù hợp, giảm thiểu sự kỳ thị hoặc áp lực từ bạn bè.Create a supportive environment: have a suitable space for eating, and keep stigma or pressure from other children to a minimum.

Hỗ trợ nhất quán: Đảm bảo rằng tất cả nhân viên nhà trường hiểu và tôn trọng nhu cầu ăn uống đặc biệt của trẻ.Support consistently: make sure all school staff understand and respect the child's particular dietary needs.

Quan sát và báo cáo: Ghi chép lại những thay đổi về hành vi, khả năng tập trung và xử lý giác quan có thể liên quan đến chế độ ăn.Observe and report: record any changes in behaviour, concentration and sensory processing that may be related to the diet.

Lưu ý: Chế độ ăn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ có rối loạn giác quan, nhưng không phải là giải pháp toàn diện. Cách tiếp cận tốt nhất là:A note: diet can play an important part in supporting an autistic child with sensory processing difficulties, but it is not a complete solution. The best approach is to:

Cá nhân hóa dựa trên đánh giá chuyên nghiệp.Individualise it on the basis of professional assessment.

Thực hiện thay đổi từ từ và có kế hoạch.Make changes slowly and to a plan.

Kết hợp với các phương pháp can thiệp khác.Combine it with other interventions.

Kiên nhẫn và nhất quán.Be patient and consistent.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là cải thiện các vấn đề giác quan mà còn tạo ra một mối quan hệ lành mạnh giữa trẻ với thực phẩm và bữa ăn.The ultimate goal is not only to improve sensory difficulties, but also to build a healthy relationship between your child and food and mealtimes.

Bố mẹ đã từng áp dụng điều chỉnh chế độ ăn cho con và nhận thấy những thay đổi nào? Hãy chia sẻ kinh nghiệm trong phần bình luận cùng An nha! An sẽ viết bài hướng dẫn chi tiết mở rộng chế độ ăn cho trẻ tự kỷ, bố mẹ cùng đón đọc nha ạHave you adjusted your child's diet, and what changes did you notice? Do share your experience in the comments with me. I will write a detailed guide on expanding the diet for autistic children, so do look out for it.

Bài viết này được tổng hợp dựa trên hiểu biết của AN, rất mong nhận được góp ý từ mọi người để nội dung ngày càng hoàn thiện hơn.This article is put together from my own understanding at AN, and I would very much welcome your comments so that the content keeps getting better.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Hiểu về chứng tự học đọc ở trẻUnderstanding hyperlexia in children

Trung tâm AN tổng hợp và dịchCompiled and translated by AN Center

Nếu trẻ mới biết đi hoặc trẻ mẫu giáo có thể tự đọc sách với rất ít hướng dẫn từ người khác thì trẻ có thể là một người tự học đọc. Tự học đọc, còn được gọi là đọc tự phát là khi một đứa trẻ tìm ra cách đọc mà không cần bất kỳ hướng dẫn đọc chính thức nào. Đây có thể là một biểu hiện của năng khiếu nhưng không phải lúc nào cũng vậy.If a toddler or a preschooler can read books on their own with very little guidance from anyone else, they may be a self-taught reader. Self-taught reading, also called spontaneous reading, is when a child works out how to read without any formal reading instruction. This can be a sign of giftedness, but not always.

Tự học đọc và năng khiếuSelf-taught reading and giftedness

Khi học đọc, trước tiên một đứa trẻ phải nhận ra rằng các chữ cái đại diện cho âm thanh và các chữ cái cũng đại diện cho các từ. Trẻ tự học đọc sẽ tự tìm ra hệ thống biểu tượng này, đôi khi chỉ thông qua một video hoặc trò chơi về bảng chữ cái hoặc đơn giản là được tiếp xúc với rất nhiều sáchWhen learning to read, a child first has to recognise that letters stand for sounds, and that letters also stand for words. A self-taught reader works this system of symbols out on their own — sometimes from nothing more than a video or a game about the alphabet, or simply from being around a lot of books.

Không phải lúc nào tự học đọc cũng là biểu hiện của năng khiếu, nhưng đó là một dấu hiệu cho thấy đứa trẻ có thể có các kỹ năng ngôn ngữ vượt trội. Học nói là một kỹ năng tự nhiên đối với hầu hết trẻ em, nhưng học đọc thường phải được dạy. Người đọc phải có khả năng nhớ những gì họ đọc ở đầu câu trước khi đến cuối câu, cũng như những gì họ đọc ở đầu đoạn trước khi đến cuối đoạn.Self-taught reading is not always a sign of giftedness, but it is a sign that the child may have advanced language skills. Learning to talk is a natural skill for most children, but reading usually has to be taught. A reader has to be able to remember what they read at the beginning of a sentence before they reach the end of it, and what they read at the beginning of a paragraph before they reach the end of it.

Nếu một đứa trẻ tự học đọc trước khi được hướng dẫn, đọc trôi chảy trước 5 tuổi, điều đó cho thấy bộ não của chúng trưởng thành hơn, rất có thể đứa trẻ đó có năng khiếu.If a child teaches themselves to read before anyone instructs them, and reads fluently before the age of 5, that shows their brain is more mature, and that child is very likely gifted.

Tự học đọc và HyperlexiaSelf-taught reading and hyperlexia

Tạm dịch Hyperlexia là một hội chứng đặc trưng khi đứa trẻ cảm thấy say mê vô cùng đối với các chữ cái hoặc con số, có thể thể hiện khả năng đọc vượt trội hơn so với độ tuổi của trẻ ví dụ có những trẻ mới hai tuổi đã có thể bắt đầu đọc chữ.Hyperlexia is a syndrome marked by an intense fascination with letters or numbers, together with a reading ability well ahead of the child's age — some children begin reading words at just 2 years old.

Đôi khi khả năng đọc vượt trội này là năng khiếu nhưng đó cũng có thể là biểu hiện của chứng hyperlexia. Những đứa trẻ này xuất sắc trong việc nhận ra các chữ cái, từ và âm thanh nhưng có thể không hiểu những gì chúng đang đọc.Sometimes this advanced reading ability is giftedness, but it can also be a sign of hyperlexia. These children are excellent at recognising letters, words and sounds, but they may not understand what they are reading.

Hyperlexia thường được đặc trưng bởi bốn đặc điểm:Hyperlexia is usually marked by four features:

  • 1. Có kỹ năng đọc vượt trội1. Advanced reading skills
  • 2. Là người tự học đọc2. Being a self-taught reader
  • 3. Thể hiện sở thích mạnh mẽ đối với chữ cái và sách3. A strong interest in letters and books
  • 4. Mắc rối loạn phát triển thần kinh đi kèm.4. A co-occurring neurodevelopmental disorder

Đôi khi hyperlexia có thể là dấu hiệu của rối loạn phổ tự kỷ (ASD); 84% trẻ em mắc chứng hyperlexia cũng thuộc phổ tự kỷ. Nhưng chỉ có 6% đến 14% trẻ em được chẩn đoán tự kỷ mắc chứng hyperlexia.Hyperlexia can sometimes be a sign of autism spectrum disorder (ASD): 84% of children with hyperlexia are also on the autism spectrum. But only 6% to 14% of children diagnosed with autism have hyperlexia.

Bàì viết được An tổng hợp và dịch, link tham khảo:Compiled and translated by AN — reference links:

https://www.verywellfamily.com/self-taught-reader-1449202https://www.verywellfamily.com/self-taught-reader-1449202

https://beekids.buzz/hyperlexia-children-read-before-3/https://beekids.buzz/hyperlexia-children-read-before-3/

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Con bỗng bỏ chơi giữa chừng: hiểu về “quá tải”Your child suddenly walks away mid-play: understanding “overload”

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Bố mẹ đang chơi vui vẻ với con thì bỗng thấy:You are playing happily with your child, and then suddenly:

Con chạy ra ngoài xoay tròn mấy vòngYour child runs off and spins around a few times

Con ngồi hát một mìnhYour child sits and sings alone

Hoặc chỉ ngồi thừ ra, nhìn lơ đễnh...Or just sits there blankly, gazing into space...

Những biểu hiện này cho thấy con không còn tập trung vào trò chơi nữa.All of these signs show that your child is no longer focused on the game.

________________________________________________________________________________

Phản ứng thường gặp của bố mẹWhat parents usually do

Lo lắng vì con rời xa mình, bố mẹ thường tìm cách thu hút lại:Worried that your child is moving away from you, you try to draw them back in:

  • Gọi con: "Con ơi, nhìn này!", "Wow, mẹ có cái này nè!"Calling out: “Sweetheart, look at this!”, “Wow, look what I’ve got!”
  • Hát liên tục các bài hát yêu thích của conSinging your child’s favourite songs over and over
  • Đổi trò chơi khác hấp dẫn hơn: đuổi bắt, ú òa...Switching to a more exciting game: chase, peekaboo...

Nhưng càng cố gắng gọi, con lại càng chạy xa hơn, thậm chí còn tỏ ra khó chịu.But the harder you try to call them back, the further your child runs — and they may even become irritated.

________________________________________________________________________________

Điều gì đang xảy ra vậy?So what is going on?

An gọi đó là hiện tượng "mất kết nối". Và một trong những nguyên nhân chính là do con đang bị "quá tải".At AN we call this “losing the connection”. And one of the main causes is that your child is in “overload”.

"Quá tải” có thể hiểu đơn giản rằng: mỗi bạn nhỏ sẽ có một ngưỡng nhất định để tập trung chú ý liên lục vào hoạt động. Khi vượt quá ngưỡng này, bạn nhỏ cũng cần thời gian để tự điều chỉnh cảm xúc của mình, ổn định cơ thể sau đó mới quay trở lại hoạt động.“Overload” can be understood quite simply: every child has a certain threshold for sustained attention on an activity. Once they go past that threshold, a child needs time to self-regulate their emotions and settle their body before they can come back to the activity.

________________________________________________________________________________

Chúng ta có thể làm gì để giữ “kết nối” với trẻ?What can we do to keep the “connection” with a child?

Nhận biết ngưỡng tập trung chú ý của con:Recognise your child’s attention threshold:

Quan sát để biết ngưỡng tập trung chú ý của con là bao lâu vì ngưỡng thời gian này thường sẽ thể hiện nhất quán trong hầu hết các hoạt động của con. Khi đã biết ngưỡng tập trung chú ý của con, các bạn có thể thiết kế lịch trình các hoạt động phù hợp cho con. Ví dụ con chỉ có thể tập trung hiệu quả trong vòng 15 phút, vậy mỗi hoạt động của con cũng sẽ không quá thời gian này; con chỉ có thể ngồi chơi ổn định và bình tĩnh bên các bạn khoảng 2-3 phút thì các bạn lúc này cũng sẽ điều chỉnh trò chơi, cách chơi và nhịp chơi của mình sao cho phù hợp với ngưỡng của con.Observe your child to find out how long their attention threshold is, because this length of time is usually consistent across most of their activities. Once you know your child’s attention threshold, you can design a schedule of activities that suits them. For example, if your child can only focus effectively for 15 minutes, then none of their activities should run longer than that; if your child can only sit and play calmly beside you for about 2–3 minutes, then that is when you adjust the game, the way you play and the pace of your play to match your child’s threshold.

Quan sát để đọc được các dấu hiệu “quá tải” của con:Observe so that you can read your child’s signs of “overload”:

Mỗi bạn nhỏ với những đặc điểm khác nhau sẽ có những sự thể hiện khác nhau. Khi dự đoán được những nguyên nhân khiến con “quá tải”, các bạn sẽ có những phản hồi phù hợp. Ví dụ những vấn đề giác quan đang là trở ngại khiến con không thể ổn định, bình tĩnh tham gia vào hoạt động trong thời gian dài, các bạn cũng có thể cung cấp đầu vào giác quan cho con thông qua các bài tập vận động cá nhân; nếu trò chơi chưa đủ hấp dẫn với con vậy các bạn cần nghĩ cách để thay đổi, mở rộng và sáng tạo trò chơi hơn nữa...Every child is different, and each will show it differently. Once you can anticipate the causes that push your child into “overload”, you will be able to respond appropriately. For example, if sensory processing difficulties are the obstacle keeping your child from staying settled and calm in an activity for long, you can give them sensory input through individual movement exercises; if the game is not engaging enough for your child, then you need to think of ways to change it, extend it and make it more creative...

Quan sát để dự đoán các nguyên nhân khiến con “quá tải”.Observe so that you can anticipate the causes that push your child into “overload”.

Nguyên nhân có thể là do tác động từ môi trường bên ngoài như tiếng ồn, do các vấn đề giác quan của con, do con không có ý tưởng gì với trò chơi, hoặc cũng có thể do trò chơi chưa đủ hấp dẫn ... Khi dự đoán được những nguyên nhân khiến con “quá tải”, các bạn sẽ có những phản hồi phù hợp. Ví dụ những vấn đề giác quan đang là trở ngại khiến con không thể ổn định, bình tĩnh tham gia vào hoạt động trong thời gian dài, các bạn cũng có thể cung cấp đầu vào giác quan cho con thông qua các bài tập vận động cá nhân; nếu trò chơi chưa đủ hấp dẫn với con vậy các bạn cần nghĩ cách để thay đổi, mở rộng và sáng tạo trò chơi hơn nữa...The cause may be something in the surrounding environment such as noise, your child’s own sensory processing difficulties, your child having no ideas for the game, or the game simply not being engaging enough... Once you can anticipate the causes that push your child into “overload”, you will be able to respond appropriately. For example, if sensory processing difficulties are the obstacle keeping your child from staying settled and calm in an activity for long, you can give them sensory input through individual movement exercises; if the game is not engaging enough for your child, then you need to think of ways to change it, extend it and make it more creative...

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Ngừng nói “Bình tĩnh lại”Stop saying “Calm down”

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Khi con đang căng thẳng, buồn bã hay tức giận, câu "Bình tĩnh lại!" đôi khi lại khiến con cảm thấy cô đơn hơn.When your child is stressed, sad, or angry, “Calm down!” can sometimes leave them feeling more alone.

Thay vào đó, chúng ta có thể dùng những lời nói kết nối và chữa lành hơn.There are other things we can say instead — words that connect and heal.

Dưới đây là những gợi ý dễ áp dụng. Ba mẹ hãy điều chỉnh phù hợp hoàn cảnh thực tế để mỗi khi bên con, con sẽ cảm thấy được thấu hiểu, được hỗ trợ và học được cách tự điều chỉnh cảm xúc của mình nhé.Here are some suggestions that are easy to use. Adjust them to fit your own situation, so that every time you are with your child, they feel understood, feel supported, and learn how to regulate their own emotions.

Thay vì nói “Bình tĩnh lại!”, hãy nhẹ nhàng nói:Instead of “Calm down!”, say gently:

"Ba/mẹ đang ở đây với con."“I’m right here with you.”

Điều này giúp truyền đạt sự an toàn và hiện diện, tạo cơ hội cho cả ba mẹ và con cùng điều chỉnh cảm xúc.This gets across safety and presence, and gives both you and your child a chance to settle your emotions together.

Ví dụ: Khi con vẫn còn quá phấn khích sau giờ chơi, ba/mẹ có thể ngồi xuống bên cạnh và thì thầm với con bằng giọng dịu dàng.For example: when your child is still too wound up after playtime, you can sit down beside them and whisper to them in a soft voice.

Thay vì nói “Không sao đâu.”, hãy công nhận cảm xúc của con bằng cách nói:Instead of “You’re fine.”, acknowledge what your child is feeling by saying:

"Ba/mẹ hiểu điều này khó khăn với con."“I know this is hard for you.”

Cách này giúp con cảm nhận rằng cảm xúc của mình được công nhận, thay vì bị phủ nhận.This helps your child feel that their emotions are recognised, rather than denied.

Ví dụ: Khi con buồn bã và bật khóc sau khi thua một trò chơi, ba/mẹ hãy thể hiện sự đồng cảm thay vì bỏ qua.For example: when your child is upset and bursts into tears after losing a game, show empathy instead of brushing it off.

Thay vì nói “Nín đi.”, hãy cho phép con biểu đạt cảm xúc bằng câu:Instead of “Stop crying.”, let your child express what they feel:

"Con có thể khóc. Ba/mẹ sẽ giúp con vượt qua điều này."“You can cry. I’ll help you get through this.”

Điều này cho thấy sự hiện diện bên cạnh để hỗ trợ con đồng thời cho phép con cảm nhận, thể hiện cảm xúc.This shows that you are there beside them to support them, while also letting them feel and express their emotions.

Ví dụ: Khi con quá sợ hãi, lo lắng hay buồn bã vì mắc lỗi, hãy ở bên con để cảm nhận và hồi phục trong sự an toàn.For example: when your child is frightened, anxious, or upset over a mistake, stay with them so they can feel it and recover in safety.

Thay vì nói “Thư giãn đi.”, hãy dạy con kỹ năng điều chỉnh cảm xúc bằng cách gợi ý:Instead of “Relax.”, teach your child a regulation skill by suggesting:

"Mình cùng thử bài tập thở nhé."“Let’s try a breathing exercise together.”

Cách này cung cấp cho con một công cụ thực tế để tự điều chỉnh.This gives your child a practical tool for self-regulation.

Ví dụ: Ba mẹ có thể hướng dẫn con "ngửi bông hoa, thổi tắt ngọn nến" – một hình ảnh sinh động giúp trẻ tập thở sâu dễ dàng.For example: you can guide your child to “smell the flower, blow out the candle” – a vivid image that makes deep breathing easy for children to practise.

Thay vì nói “Không có gì phải buồn cả.”, hãy khuyến khích con mở lòng chia sẻ bằng câu:Instead of “There’s nothing to be sad about.”, encourage your child to open up and share:

"Cảm xúc của con rất quan trọng. Con có muốn kể thêm cho ba/mẹ nghe không?"“Your feelings matter. Do you want to tell me more?”

Điều này khuyến khích con giao tiếp, học cách diễn đạt cảm xúc bằng lời.This encourages your child to communicate and to learn to put feelings into words.

Ví dụ: Trong các hoạt động nhóm, nếu con buồn vì bất đồng với bạn, hãy công nhận cảm xúc đó thay vì gạt đi.For example: in group activities, if your child is upset after a disagreement with a friend, acknowledge that feeling instead of waving it away.

Thay vì nói “Đừng tức giận.”, hãy bình thường hóa cảm xúc và khuyến khích con tìm cách giải quyết bằng câu:Instead of “Don’t be angry.”, normalise the feeling and encourage your child to look for a solution:

"Không sao khi cảm thấy tức giận. Mình cùng nghĩ xem làm gì để cảm thấy dễ chịu hơn nhé."“It’s okay to feel angry. Let’s think about what would help you feel better.”

Điều này giúp trẻ hiểu rằng tức giận là cảm xúc tự nhiên và có cách để xử lý nó.This helps children understand that anger is a natural emotion and that there are ways to handle it.

Ví dụ: Trong những lúc chuyển hoạt động, nếu con bực bội, ba mẹ có thể hỗ trợ con nhận biết và kiểm soát cảm xúc của mình, cung cấp công cụ để đối phó với cơn tức giận ví dụ hít thở, đếm….For example: during a transition between activities, if your child is frustrated, you can help them recognise and manage the feeling, and give them tools for dealing with anger — breathing, counting, and so on.

Thay vì nói “Thế là đủ rồi!”, hãy hướng dẫn con xây dựng khả năng cảm nhận bên trong bằng cách nói:Instead of “That’s enough!”, help your child build a sense of what is going on inside by saying:

"Hãy nghỉ ngơi một chút và xem cơ thể mình đang cảm thấy thế nào."“Let’s take a little break and see how your body is feeling.”

Điều này giúp trẻ phát triển khả năng tự nhận thức và điều chỉnh chính mình.This helps children develop self-awareness and self-regulation.

Ví dụ: Khi con trở nên ồn ào trong giờ học tại nhà, ba/mẹ có thể nhẹ nhàng hướng con đến một góc yên tĩnh để nghỉ ngơi.For example: when your child gets noisy during a lesson at home, you can gently steer them to a quiet corner for a rest.

Thay vì nói “Con đang phản ứng thái quá đấy.”, hãy thể hiện sự hỗ trợ bằng câu:Instead of “You’re overreacting.”, show your support:

"Có vẻ như điều này đang rất căng thẳng với con. Mình cùng nhau vượt qua nhé."“It looks like this is really stressful for you. Let’s get through it together.”

Điều này giúp trẻ cảm thấy được lắng nghe thay vì bị đánh giá.This helps children feel heard rather than judged.

Ví dụ: Sau một bài kiểm tra căng thẳng, nếu con hoảng sợ hoặc lo âu, hãy ghi nhận cảm xúc đó trước khi giúp con ổn định lại.For example: after a stressful test, if your child is panicky or anxious, acknowledge that feeling before helping them settle again.

Ghi nhớ:Remember:

Khi con căng thẳng hay mất kiểm soát, điều con cần trước tiên không phải là lời khuyên hay mệnh lệnh, mà là sự kết nối cảm xúc từ ba mẹ. Bằng cách thay đổi những câu nói nhỏ hằng ngày, chúng ta đang gieo trồng cho con khả năng tự điều chỉnh cảm xúc – một món quà theo con suốt cả cuộc đời.When your child is stressed or out of control, the first thing they need is not advice or instructions, but an emotional connection with you. By changing these small everyday phrases, we are planting in our children the ability to regulate their own emotions – a gift that will stay with them for life.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

5 cách giúp trẻ tự kỷ ngủ ngonFive ways to help an autistic child sleep well

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Xây dựng thời gian biểu hợp lý: Tạo thói quen để trẻ đi ngủ, thức dậy vào những khung giờ cố định.Build a sensible daily schedule: create a routine so your child goes to bed and wakes up at fixed times.

Đồng hồ sinh học của trẻ giúp trẻ ngủ và cảm thấy tỉnh táo vào những thời điểm cụ thể trong ngày. Nếu bố mẹ cho phép con ngủ nướng vào cuối tuần, điều đó sẽ khiến trẻ khó thức dậy hơn vào giờ thường lệ trong tuần. Tương tự như vậy, nếu bố mẹ cho phép con thức khuya vào ban đêm cuối tuần, bé sẽ khó ngủ hơn vào giờ đi ngủ các ngày trong tuần.Your child's body clock tells them when to sleep and when to feel alert at particular points in the day. If you let your child sleep in at the weekend, it becomes harder for them to wake up at the usual time on weekdays. In the same way, if you let them stay up late at night at the weekend, they will find it harder to fall asleep at bedtime during the week.

Nếu con quá khó khăn để đi ngủ, bố mẹ cũng có thể giảm thời gian ngủ trưa của con, cho con thức dậy sớm hơn vào buổi sáng. Hãy lưu ý về việc đôi khi con thức muộn vào đêm hôm trước, bố mẹ thường để con ngủ bù vào ngày hôm sau. Điều đó sẽ gây trở ngại hơn cho con trong việc thích ứng với lịch trình giấc ngủ. Vì vậy, bố mẹ có thể cho con thức dậy muộn khoảng 30 phút nhưng cần tránh việc để con “ngủ nướng” thoải mái.If your child finds it very hard to fall asleep, you can also shorten their afternoon nap and wake them earlier in the morning. Do watch out for this: when your child has been up late the night before, we often let them sleep in the next day to make up for it. That makes it even harder for them to adapt to the sleep schedule. So you can let them wake up about 30 minutes later, but avoid letting them “sleep in” as long as they like.

Hãy xây dựng cho con thời gian biểu hợp lý và duy trì một cách nhất quán.Build a sensible schedule for your child and keep to it consistently.

Điều chỉnh chế độ vận động: Các hoạt động vận động giúp con giải phóng năng lượng. Vận động đủ vào ban ngày có thể hỗ trợ cải thiện giấc ngủ của con vào ban đêm. Tuy nhiên việc vận động cũng khiến con tỉnh táo và hưng phấn hơn, vì vậy bố mẹ cần kết thúc vận động cũng như những hoạt động chơi đùa vui vẻ, phấn khích ít nhất 2 giờ trước khi đi ngủ.Adjust how much your child moves: physical activity helps your child release energy. Enough movement during the day can help improve their sleep at night. But movement also makes a child alert and excited, so you need to finish active play — and any fun, exciting games — at least two hours before bedtime.

Điều chỉnh chế độ ăn: Hạn chế thức uống có gas, caffein, các chất kích thích khác và đặc biệt là đồ ngọt vào buổi tối.Adjust the diet: limit fizzy drinks, caffeine and other stimulants in the evening, and sweet things above all.

Điều chỉnh hoạt động trước giờ ngủ:Adjust the activities before bedtime:

Đừng thực hiện bất cứ một hoạt động tiêu tốn nhiều năng lượng gần giờ ngủ của con như nô đùa, xem một bộ phim kích thích hoặc đọc một cuốn sách kích thích....Don't do anything that uses up a lot of energy close to your child's bedtime — romping about, watching an exciting film, reading an exciting book, and so on.

Thêm vào các hoạt động thư giãn trước giờ ngủ: Bố mẹ có thể cho con ngâm nước ấm 15-20 phút, kết hợp sử dụng tinh dầu, nghe nhạc nhẹ nhàng, massage, đọc truyện trước khi đi ngủ.Add calming activities before bedtime: you can let your child soak in warm water for 15–20 minutes, use essential oils alongside it, play gentle music, give a massage, or read a story before bed.

Thiết kế phòng ngủ thoải mái:Set up a comfortable bedroom:

Bố mẹ sử dụng đèn ánh sáng vàng, giảm ánh sáng trong phòng trước giờ ngủ khoảng 1-2 giờ để con giảm bớt những kích thích về thị giác,Use warm yellow lighting and dim the lights in the room about 1–2 hours before bedtime so your child gets less visual stimulation,

Điều chỉnh nhiệt độ phòng phù hợp với con.Set the room temperature to suit your child.

Nếu con đặc biệt yêu thích chiếc chăn hoặc gối ôm, những đồ giúp con thư giãn và dễ đi vào giấc ngủ, hãy luôn để chúng sẵn sàng trong phòng của con. Phòng ngủ phải là nơi êm ái và thoải mái để chìm vào giấc ngủ.If your child is especially fond of a particular blanket or cuddly pillow — the things that help them relax and drift off — always keep them ready in their room. The bedroom should be a soft, comfortable place to fall asleep in.

Có thể bố mẹ sẽ chưa thấy ngay sự cải thiện chất lượng giấc ngủ của con vì con cũng cần thời gian để thích ứng với lịch trình và điều hòa giấc ngủ. Tuy nhiên bố mẹ hãy kiên trì thực hiện và đồng hành cùng con nhéYou may not see your child's sleep improve straight away, because they need time to adapt to the schedule and to settle their sleep. But keep at it and stay alongside your child.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Dạy trẻ 2–3 tuổi kiểm soát cảm xúc và giao tiếpTeaching children aged 2–3 to manage their emotions and communicate

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Kỹ năng xã hội - cảm xúc là gì?What are social and emotional skills?

Kỹ năng xã hội - cảm xúc là những kỹ năng giúp trẻ nhận biết cảm xúc của mình, kiểm soát cảm xúc, hòa nhập với người khác và xây dựng các mối quan hệ lành mạnh.Social and emotional skills are the skills that help a child recognise their own feelings, manage those feelings, get along with other people and build healthy relationships.

Theo nghiên cứu từ CASEL (Collaborative for Academic, Social, and Emotional Learning, 2013), trẻ có kỹ năng xã hội - cảm xúc tốt sẽ dễ dàng thích nghi với môi trường mới, ít căng thẳng hơn và có khả năng giao tiếp tốt hơn khi lớn lên.According to research from CASEL (Collaborative for Academic, Social, and Emotional Learning, 2013), children with strong social and emotional skills adapt more easily to new environments, experience less stress and communicate better as they grow up.

Đặc điểm kỹ năng xã hội - cảm xúc của trẻ 2-3 tuổiWhat social and emotional skills look like in a child aged 2–3

Theo CDC (2021) và AAP (2019), trẻ trong giai đoạn này có một số đặc điểm nổi bật:According to the CDC (2021) and the AAP (2019), children at this stage show a number of characteristic features:

2.1. Cảm xúc của trẻ2.1. Your child’s emotions

Bé có thể gọi tên các cảm xúc đơn giản như vui, buồn, giận, sợ.Your child can name simple feelings such as happy, sad, angry and scared.

Bé bắt đầu bộc lộ lo lắng khi xa cha mẹ (hiện tượng “bám mẹ” rất phổ biến).Your child starts to show anxiety at being away from you (“clinging to mum” is very common at this age).

Bé có thể tự biểu đạt cảm xúc bằng lời nói, ví dụ: “Con không thích!” hoặc “Con giận!”.Your child can express feelings in words, for example: “I don’t like it!” or “I’m cross!”

2.2. Cách trẻ kiểm soát cảm xúc2.2. How your child manages emotions

Khi giận dữ, bé có thể ăn vạ, khóc lớn hoặc ném đồ chơi, vì bé chưa biết cách điều chỉnh cảm xúc.When angry, your child may have a tantrum, cry loudly or throw toys, because they don’t yet know how to regulate their feelings.

Bé bắt đầu học cách tự xoa dịu bản thân, ví dụ như ôm gấu bông khi buồn.Your child is beginning to learn how to soothe themselves, for example by hugging a teddy when they are sad.

Bé có thể bắt chước cha mẹ hoặc người lớn để điều chỉnh cảm xúc (ví dụ: cha mẹ hít thở sâu khi căng thẳng, bé cũng sẽ học theo).Your child may copy you or another adult in order to regulate their feelings (for example, if you take a deep breath when you are stressed, your child will learn to do the same).

2.3. Kỹ năng giao tiếp xã hội2.3. Social communication skills

Bé thích bắt chước người lớn và những bạn khác.Your child likes to copy adults and other children.

Bé bắt đầu chơi song song với bạn (parallel play), nhưng chưa thực sự biết chơi chung.Your child begins to engage in parallel play alongside other children, but doesn’t really know yet how to play together with them.

Bé thích tự lập hơn, chẳng hạn như tự mặc quần áo, tự ăn.Your child wants to be more independent — getting dressed alone, eating alone.

2.4. Khả năng đồng cảm và chia sẻ2.4. Empathy and sharing

Khi thấy ai đó buồn, bé có thể an ủi bằng cách ôm bạn hoặc đưa đồ chơi.When your child sees someone who is sad, they may comfort that person with a hug or by handing over a toy.

Bé bắt đầu biết chia sẻ, nhưng vẫn còn rất “ích kỷ” và dễ giành lại đồ chơi ngay sau khi đưa cho bạn.Your child is starting to share, but is still very “selfish” and will readily snatch the toy back the moment after giving it to a friend.

Bé dần hiểu về quyền sở hữu, thường xuyên nói “Của con!” khi có ai đó lấy đồ chơi của mình.Your child is gradually coming to understand ownership, and will often say “Mine!” when someone takes one of their toys.

Cha mẹ có thể giúp con phát triển kỹ năng này như thế nào?How can you help your child develop these skills?

Có nhiều cách để cha mẹ hỗ trợ con trong quá trình phát triển kỹ năng xã hội - cảm xúc. Dưới đây là những phương pháp khoa học đã được nghiên cứu:There are many ways you can support your child as these social and emotional skills develop. Here are the approaches that research has shown to work:

3.1. Gọi tên cảm xúc giúp con hiểu chính mình3.1. Naming feelings helps your child understand themselves

Theo nghiên cứu của Gottman et al. (1997), khi cha mẹ giúp trẻ gọi tên cảm xúc, trẻ sẽ học cách kiểm soát và diễn đạt cảm xúc tốt hơn.According to research by Gottman et al. (1997), when parents help a child name their feelings, the child learns to manage and express those feelings better.

Khi con giận, thay vì nói “Đừng khóc!”, hãy nói: “Con đang giận đúng không? Mẹ biết con đang khó chịu.”When your child is angry, instead of saying “Don’t cry!”, say: “You’re feeling angry, aren’t you? I know you’re upset.”

Khi con vui vẻ, hãy nói: “Con đang rất vui vì được chơi với bạn đúng không?”When your child is happy, say: “You’re really enjoying playing with your friend, aren’t you?”

Điều này giúp con nhận thức được cảm xúc của mình và học cách diễn đạt cảm xúc thay vì bộc phát bằng hành động tiêu cực.This helps your child become aware of their own feelings and learn to put them into words, rather than letting them burst out as negative behaviour.

3.2. Hướng dẫn con kiểm soát cảm xúc3.2. Show your child how to manage feelings

Theo Murray et al. (2015), kỹ thuật hít thở sâu giúp trẻ kiểm soát cơn giận hiệu quả.According to Murray et al. (2015), deep-breathing techniques are an effective way for children to manage anger.

Khi con khóc, hãy hướng dẫn con: “Hít vào, thở ra chậm nào! Mình cùng đếm đến 5 nhé.”When your child is crying, guide them: “Breathe in, breathe out slowly! Let’s count to five together.”

Nếu con ăn vạ, thay vì la mắng, hãy đưa con đến một góc yên tĩnh để con tự bình tĩnh lại.If your child has a tantrum, instead of scolding them, take them to a quiet corner so they can calm themselves down.

Việc dạy con kiểm soát cảm xúc ngay từ nhỏ sẽ giúp con dễ dàng vượt qua căng thẳng sau này.Teaching your child to manage their emotions from an early age will make it easier for them to cope with stress later on.

3.3. Dạy con chơi cùng bạn và chia sẻ3.3. Teach your child to play with others and to share

Cha mẹ có thể chơi đóng vai với con: “Bây giờ mẹ sẽ đưa đồ chơi cho con, rồi con đưa lại cho mẹ nhé!”You can play a role-play game with your child: “Now I’m going to give you the toy, and then you give it back to me!”

Khi con chia sẻ đồ chơi, hãy khen ngợi: “Con giỏi quá! Con đã biết chia sẻ với bạn.” (Theo nghiên cứu của Dweck, 2006, khen ngợi cụ thể sẽ hiệu quả hơn khen ngợi chung chung như “Con giỏi lắm!”).When your child shares a toy, offer praise: “Well done! You shared with your friend.” (Research by Dweck, 2006, found that specific praise works better than general praise such as “Good girl!”)

Điều này giúp con hiểu rằng chia sẻ là hành động tốt, nhưng không ép buộc con nếu con chưa sẵn sàng.This helps your child understand that sharing is a good thing to do — without forcing them if they are not ready.

3.4. Tạo môi trường phù hợp để con học cách giao tiếp3.4. Create the right environment for your child to learn to communicate

Cho con chơi cùng trẻ khác để con học cách tương tác.Let your child play with other children so they can learn how to interact.

Hướng dẫn con trong các tình huống hàng ngày như cách chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi.Guide your child through everyday situations such as greeting people, saying thank you and saying sorry.

Đọc sách tranh về cảm xúc và xã hội cho con nghe.Read picture books about feelings and about getting along with others.

Môi trường tích cực sẽ giúp con phát triển kỹ năng này nhanh hơn.A positive environment will help your child develop these skills faster.

Khi nào cần hỗ trợ chuyên gia?When do you need professional support?

Nếu con có những dấu hiệu sau, cha mẹ nên tham khảo chuyên gia để được tư vấn:If your child shows any of the following signs, it is worth consulting a professional for advice:

Không phản ứng với người khác (không giao tiếp bằng mắt, không cười).No response to other people (no eye contact, no smiling).

Luôn chơi một mình, không quan tâm đến ai xung quanh.Always plays alone, with no interest in anyone around them.

Khóc hoặc nổi giận quá mức mà không thể xoa dịu.Cries or becomes angry to an extreme degree and cannot be soothed.

Giai đoạn 2-3 tuổi là thời điểm quan trọng để phát triển kỹ năng xã hội - cảm xúc. Cha mẹ có thể hỗ trợ con bằng cách gọi tên cảm xúc, hướng dẫn kiểm soát cảm xúc, khuyến khích chơi chung và tạo môi trường giao tiếp phù hợp.The period from two to three years old is an important time for developing social and emotional skills. You can support your child by naming feelings, showing them how to manage those feelings, encouraging them to play with others and creating the right environment for communication.

Mọi cảm xúc của con đều quan trọng, và cha mẹ chính là người hướng dẫn tốt nhất giúp con trưởng thành về mặt cảm xúc!Every one of your child’s feelings matters, and you are the best guide they have as they grow emotionally.

——————————————————————————————————————————

Nguồn tham khảoReferences

CDC (2021). Important Milestones: Your Child by Three Years.CDC (2021). Important Milestones: Your Child by Three Years.

AAP (2019). Emotional and Social Development in Toddlers.AAP (2019). Emotional and Social Development in Toddlers.

Gottman, J. et al. (1997). The Heart of Parenting.Gottman, J. et al. (1997). The Heart of Parenting.

Dweck, C. (2006). Mindset: The New Psychology of Success.Dweck, C. (2006). Mindset: The New Psychology of Success.

Kagan, J. (2008). The Temperamental Thread.Kagan, J. (2008). The Temperamental Thread.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Chứng nhại lời ở trẻ tự kỷEcholalia in autistic children

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Echolalia, hay còn gọi là chứng nhại lời, là khi trẻ lặp lại chính xác các từ hoặc câu mà chúng nghe từ người khác. Đó có thể là từ của người thân (như cha mẹ, bạn bè, giáo viên…) hoặc những câu nói trong chương trình yêu thích của trẻ. Đây là hiện tượng khá phổ biến ở trẻ tự kỷ.Echolalia is when a child repeats, word for word, things they have heard someone else say. It might be something from a person close to them — a parent, a friend, a teacher — or a line from a programme they love. It is fairly common in autistic children.

Chúng ta đều biết, trẻ nhỏ thường bắt chước lời nói từ người xung quanh trong giai đoạn học ngôn ngữ. Trẻ thường lặp lại những từ hoặc câu đã nghe hoặc xem trước đó. Ví dụ, trong quá trình học ngôn ngữ bình thường, trẻ sẽ bắt đầu với những từ đơn giản như “ăn”, “bóc”, “lấy”, “con”… và dần dần ghép chúng lại thành câu.We all know that young children imitate the speech around them while they are learning language. They repeat words or sentences they have heard or watched earlier. In typical language development, for example, a child starts with simple words like “eat”, “open”, “take”, “me”… and gradually puts them together into sentences.

Ví dụ về quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ:An example of how a child's language develops:

Ban đầu, trẻ chỉ sử dụng từ đơn như “bim bim”, “ăn”, “con”…At first the child uses single words only: “bim bim” (crisps), “eat”, “me”…

Sau đó, trẻ có thể ghép các từ lại thành câu ngắn: “Con ăn bim bim”.Then the child can put words together into short sentences: “I eat bim bim.”

Dần dần, trẻ sẽ sử dụng những câu dài hơn và linh hoạt hơn để thể hiện mong muốn: “Mẹ giúp con mở bim bim” hay “Con muốn ăn bim bim”.Little by little, the child uses longer and more flexible sentences to express what they want: “Mummy, help me open the bim bim” or “I want to eat bim bim.”

Tuy nhiên, đối với trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, hành trình học ngôn ngữ lại có sự khác biệt. Trẻ có thể bắt đầu bằng việc sử dụng những câu dài ngay từ đầu mà chưa hiểu rõ ý nghĩa của từng từ. Ví dụ, khi muốn ăn bim bim, trẻ nói một câu dài như “Con có ăn bim bim không?”, và thường xuyên lặp lại câu này trong các tình huống khác mà có thể không thể hiểu rõ nghĩa của từng từ trong câu như “ăn”, “có ăn”, “bim bim”…For a child on the autism spectrum, though, the journey into language looks different. The child may start out using long sentences straight away, without a clear grasp of what each word means. When they want bim bim, for instance, they say a whole sentence like “Do you want to eat bim bim?”, and they often repeat that same sentence in other situations, without necessarily understanding the meaning of each word in it — “eat”, “want to eat”, “bim bim”…

Đọc bài phân tích chi tiết tạiRead the detailed analysis here

Phần 1: Lý giải về chứng nhại lời ở trẻ tự kỷ https://business.facebook.com/photo.php?fbid=749819516942679&set=a.555753129682653&type=3Part 1: Understanding echolalia in autistic children https://business.facebook.com/photo.php?fbid=749819516942679&set=a.555753129682653&type=3

Phần 2: Cách hỗ trợ trẻ tự kỷ có chứng nhại lời https://business.facebook.com/photo.php?fbid=754432406481390&set=a.555753129682653&type=3Part 2: How to support an autistic child with echolalia https://business.facebook.com/photo.php?fbid=754432406481390&set=a.555753129682653&type=3

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles

Việc dùng thuốc cho trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diệnMedication for children with profound autism

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Chào mọi người,Hello everyone,

Mình vừa đọc xong cuốn "Profound Autism: A Parent's Guide" của National Autism Center và thấy chương 15 về việc dùng thuốc rất hữu ích, nên muốn chia sẻ với mọi người. Trước khi đi vào nội dung chính, mình cần giải thích về thuật ngữ để các bạn hiểu rõ hơn nhé.I have just finished reading “Profound Autism: A Parent's Guide” by the National Autism Center, and I found chapter 15, on medication, very useful, so I wanted to share it with you. Before getting to the main content, I need to explain the terminology so that you can follow it more easily.

Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện (Profound Autism) - Thuật Ngữ Mới Cần HiểuProfound autism — a new term worth understanding

Lịch Sử Phát Triển Của Các Hệ Thống Phân Loại Tự KỷHow the systems for classifying autism have developed

Trước Đây (DSM-IV - trước 2013): Tự kỷ được chia thành nhiều chẩn đoán riêng biệt:Before (DSM-IV, prior to 2013): autism was divided into a number of separate diagnoses:

  • Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder)Autistic disorder
  • Hội chứng Asperger (Asperger Syndrome)Asperger syndrome
  • Rối loạn phát triển lan tỏa không xác định (PDD-NOS)Pervasive developmental disorder — not otherwise specified (PDD-NOS)
  • Rối loạn suy thoái thời thơ ấu (Childhood Disintegrative Disorder)Childhood disintegrative disorder
  • Hội chứng Rett (Rett Syndrome)Rett syndrome

Hiện Tại (DSM-5 - từ 2013): Tất cả được gộp thành Rối loạn Phổ Tự Kỷ (ASD) với 3 cấp độ:Now (DSM-5, from 2013): all of them were merged into autism spectrum disorder (ASD), with three levels:

  • Level 1: "Cần hỗ trợ" (Requiring Support)Level 1: “Requiring support”
  • Level 2: "Cần hỗ trợ đáng kể" (Requiring Substantial Support)Level 2: “Requiring substantial support”
  • Level 3: "Cần hỗ trợ rất đáng kể" (Requiring Very Substantial Support)Level 3: “Requiring very substantial support”

Thuật Ngữ Mới Nhất (2022): Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện (Profound Autism) - ra đời vì các lý do sau:The newest term (2022): profound autism — which came about for the following reasons:

  • DSM-5 Level 3 chỉ tập trung vào "mức độ hỗ trợ cần thiết"DSM-5 Level 3 focuses only on “the level of support required”
  • Không đủ mô tả nhóm cần chăm sóc suốt đờiIt does not adequately describe the group that needs lifelong care
  • Có thể gây nhầm lẫn khi cấp dịch vụIt can cause confusion when services are allocated

Định Nghĩa Chính Thức Từ Cuốn SáchThe official definition from the book

(Lưu ý: Đây là cách hiểu của mình, có thể có giới hạn, mong các bạn bỏ qua nếu không chính xác hoàn toàn)(A note: this is my own understanding, and it may have its limits — please bear with me if it is not entirely accurate.)

Theo May Institute và National Autism Center:According to the May Institute and the National Autism Center:

Một người tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện có chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ (ASD), cần được chăm sóc 24 giờ/ngày suốt đời, có khuyết tật trí tuệ đáng kể, và không nói được hoặc nói rất ít.A person with profound autism has a diagnosis of autism spectrum disorder (ASD), needs care 24 hours a day for life, has significant intellectual disability, and is non-speaking or speaks very little.

Tại Sao Thuật Ngữ Này Quan Trọng?Why does this term matter?

  • Khoảng 27% người tự kỷ thuộc nhóm này (tương đương 1/4 trẻ tự kỷ)About 27% of autistic people belong to this group (the equivalent of one in four autistic children)
  • Nhóm này thường bị "lãng quên" trong các nghiên cứu và chính sáchThis group is often “forgotten” in research and in policy
  • Cần nguồn lực và cách tiếp cận hoàn toàn khác so với tự kỷ mức độ nhẹ hơnIt needs resources and an approach that are completely different from those for autism at milder levels

(Lưu ý: Mình sẽ dùng thuật ngữ "tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện" xuyên suốt bài viết này. Đây là cách hiểu cá nhân của mình, có thể có những giới hạn, mong các bạn thông cảm nếu có chỗ nào chưa chính xác)(A note: I will use the term “profound autism” throughout this article. This is my own personal understanding of it, and it may have its limits, so I hope you will forgive me if anything is not quite right.)

Tại Sao Trẻ Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn Diện Lại Cần Thuốc?Why do children with profound autism need medication?

Với những đặc điểm của tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện, việc sử dụng thuốc thường nhằm hỗ trợ xử lý những vấn đề đi kèm như:Given the characteristics of profound autism, medication is usually used to help manage the accompanying difficulties, such as:

  • Hành vi tự gây tổn thương hoặc hung hăngSelf-injurious or aggressive behaviour
  • Tính bốc đồng nghiêm trọngSevere impulsivity
  • Lo âu, sợ hãi cực độAnxiety and extreme fear
  • Khó tập trung và tăng độngDifficulty concentrating, and hyperactivity
  • Trầm cảmDepression

Thuốc Nào Được Chấp Thuận Chính Thức?Which medications are officially approved?

Hiện tại FDA (cơ quan quản lý thuốc của Mỹ) chỉ chấp thuận 2 loại thuốc dành riêng cho trẻ tự kỷ:At present the FDA (the US drug regulator) has approved only two medications specifically for autistic children:

  • Risperdal (risperidone)Risperdal (risperidone)
  • Abilify (aripiprazole)Abilify (aripiprazole)

Cả hai đều dùng để điều trị tình trạng "khích động" - tức là khi con hay nổi giận, tự làm hại bản thân, hoặc có những cơn bùng phát cảm xúc.Both are used to treat “irritability” — that is, when a child is often angry, hurts themselves, or has emotional outbursts.

Tổng Quan Các Loại Thuốc Thường Được Sử DụngAn overview of the medications commonly used

  • 1. Thuốc Chống Trầm Cảm1. Antidepressants
  • Mục đích: Điều trị trầm cảm, hành vi lặp đi lặp lại, lo âuPurpose: to treat depression, repetitive behaviour and anxiety
  • Các loại: Prozac®, Zoloft®, Lexapro®, Celexa®, Luvox®, Anafranil®Types: Prozac®, Zoloft®, Lexapro®, Celexa®, Luvox®, Anafranil®
  • Lưu ý: Thường mất vài tuần mới có hiệu quảNote: it usually takes several weeks before they take effect
  • 2. Thuốc Chống Loạn Thần2. Antipsychotics
  • Mục đích: Kiểm soát tính hung hăng và hành vi tự gây tổn thươngPurpose: to control aggression and self-injurious behaviour
  • Các loại: Risperdal®, Zyprexa®, Seroquel®, Abilify®, Geodon®Types: Risperdal®, Zyprexa®, Seroquel®, Abilify®, Geodon®
  • Lưu ý: Cần theo dõi tác dụng phụ về vận độngNote: motor side effects need to be monitored
  • 3. Thuốc Chống Co Giật3. Anticonvulsants
  • Mục đích: Điều trị co giật, ổn định tâm trạngPurpose: to treat seizures and to stabilise mood
  • Các loại: Depakote®, Tegretol®, Lamictal®, Neurontin®, Topamax®Types: Depakote®, Tegretol®, Lamictal®, Neurontin®, Topamax®
  • Lưu ý: Cần xét nghiệm máu định kỳNote: regular blood tests are required
  • 4. Thuốc An Thần (Benzodiazepines)4. Sedatives (benzodiazepines)
  • Mục đích: Giảm lo âuPurpose: to reduce anxiety
  • Các loại: Ativan®, Xanax®, Klonopin®Types: Ativan®, Xanax®, Klonopin®
  • Lưu ý: Chỉ dùng ngắn hạn, có thể gây phụ thuộcNote: for short-term use only, and they can cause dependence
  • 5. Thuốc Chẹn Beta và Chủ Vận Alpha5. Beta blockers and alpha agonists
  • Mục đích: Điều trị huyết áp cao và lo âuPurpose: to treat high blood pressure and anxiety
  • Các loại: Inderal®, Kapvay®, Catapres®Types: Inderal®, Kapvay®, Catapres®
  • 6. Thuốc Kích Thích6. Stimulants
  • Mục đích: Điều trị tăng động và thiếu chú ýPurpose: to treat hyperactivity and inattention
  • Các loại: Ritalin®, Concerta®, Adderall®Types: Ritalin®, Concerta®, Adderall®
  • Lưu ý: Cần theo dõi tăng trưởng và giấc ngủNote: growth and sleep need to be monitored

Những Câu Hỏi Nên Hỏi Bác SĩQuestions worth asking the doctor

  • 1. "Tại sao bác sĩ lại chọn thuốc này cho con em?"1. “Why have you chosen this medication for my child?”
  • 2. "Thuốc này đã được thử nghiệm trên trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện chưa ạ?"2. “Has this medication been trialled with children with profound autism?”
  • 3. "Bao lâu thì sẽ thấy hiệu quả?"3. “How long before we see an effect?”
  • 4. "Tác dụng phụ thường gặp là gì?"4. “What are the common side effects?”
  • 5. "Nếu con em bỏ sót một liều thì sao?"5. “What if my child misses a dose?”
  • 6. "Con em có cần tránh thực phẩm hoặc hoạt động nào không?"6. “Are there foods or activities my child needs to avoid?”

Lưu Ý Quan Trọng Về Văn Hóa Dùng Thuốc Tại Việt NamAn important note about the culture around medication in Vietnam

Vấn Đề Thuốc Xách TayThe problem of medication brought in from abroad

Hiện tại có khá nhiều phụ huynh:At the moment there are quite a few parents who:

  • Mua thuốc từ nước ngoài về mà không có đơn thuốcBuy medication from abroad without a prescription
  • Dùng thuốc theo kinh nghiệm của "mẹ bỉm khác"Give medication based on what “another mum” has experienced
  • Tự ý điều chỉnh liều lượngAdjust the dose on their own

Điều này đặc biệt nguy hiểm với trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện vì:This is particularly dangerous for children with profound autism, because:

  • Thuốc không rõ nguồn gốc có thể là hàng giảMedication of unclear origin may be counterfeit
  • Liều lượng không phù hợp có thể gây tác dụng phụ nặngAn unsuitable dose can cause severe side effects
  • Trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện không thể tự báo cáo triệu chứng bất thườngA child with profound autism cannot report unusual symptoms themselves

Hệ Quả Nghiêm TrọngThe serious consequences

Về mặt hành vi:In terms of behaviour:

  • Hành vi có thể trở nên tệ hơn và nguy hiểm hơnBehaviour can become worse and more dangerous
  • Xuất hiện các triệu chứng mới (run tay, cứng cơ)New symptoms appear (trembling hands, muscle stiffness)
  • Ảnh hưởng nghiêm trọng đến giấc ngủ và ăn uốngSleep and eating are seriously affected

Về mặt can thiệp:In terms of intervention:

  • Các liệu pháp ABA, ngôn ngữ bị ảnh hưởngABA and speech therapy are affected
  • Tiến triển chậm lại hoặc thụt lùiProgress slows down or goes backwards
  • Khó đánh giá hiệu quả can thiệpIt becomes hard to evaluate how well the intervention is working

Về mặt sức khỏe:In terms of health:

  • Tổn thương gan, thận do dùng sai liềuDamage to the liver and kidneys from an incorrect dose
  • Ảnh hưởng phát triển chiều cao, cân nặngEffects on the development of height and weight
  • Có thể gây vấn đề tim mạch nghiêm trọngIt can cause serious cardiovascular problems

Theo Dõi Hiệu Quả Thuốc Cho Trẻ Tự Kỷ Cần Hỗ Trợ Toàn DiệnMonitoring how well medication works for a child with profound autism

Thách Thức Đặc BiệtThe particular challenges

  • Trẻ không thể tự báo cáo cảm giácThe child cannot report how they feel
  • Khó phân biệt tác dụng thuốc với biến động hành vi tự nhiênIt is hard to tell the effect of the medication apart from natural fluctuations in behaviour
  • Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và team can thiệpClose coordination is needed between the family and the intervention team

Cách Theo Dõi Hiệu QuảHow to monitor it well

  • Ghi chép chi tiết về hành vi mục tiêuKeep detailed records of the target behaviours
  • Theo dõi thay đổi về ăn uống, ngủ nghỉTrack changes in eating and sleeping
  • Phối hợp với thầy cô can thiệp để đánh giá tổng thểWork together with the intervention specialists to build an overall picture

Lời Khuyên CuốiA final word of advice

Với trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện, việc sử dụng thuốc cần được cân nhắc rất kỹ lưỡng:For a child with profound autism, the use of medication needs to be weighed up very carefully:

  • 1. Tìm bác sĩ có kinh nghiệm với trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện cụ thể1. Find a doctor with experience specifically with children with profound autism
  • 2. Không bao giờ tự ý dùng thuốc dù có "kinh nghiệm từ mẹ khác"2. Never give medication on your own initiative, even with “experience from another mum”
  • 3. Theo dõi sát sao mọi thay đổi nhỏ nhất3. Watch closely for every smallest change
  • 4. Phối hợp chặt chẽ với team can thiệp4. Work closely with the intervention team
  • 5. Kiên nhẫn - hiệu quả có thể mất thời gian5. Be patient — the effect can take time

Nhớ rằng, thuốc chỉ là một phần trong hành trình dài hạn hỗ trợ trẻ tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện. Sự kết hợp giữa thuốc và các can thiệp khác mới mang lại hiệu quả tốt nhất.Remember that medication is only one part of the long journey of supporting a child with profound autism. It is the combination of medication and other interventions that brings the best results.

Nguồn: National Autism Center at May Institute. (2025). Profound Autism: A Parent's Guide. Chapter 1: Introduction & Chapter 15: Medications Prescribed for Autistic Children. Randolph, MA: Author.Source: National Autism Center at May Institute. (2025). Profound Autism: A Parent's Guide. Chapter 1: Introduction & Chapter 15: Medications Prescribed for Autistic Children. Randolph, MA: Author.

Lưu ý quan trọng:Important notes:

  • 1. Thông tin này chỉ để tham khảo, không thay thế lời khuyên y tế chuyên nghiệp1. This information is for reference only; it does not replace professional medical advice
  • 2. Cách hiểu thuật ngữ "tự kỷ cần hỗ trợ toàn diện" trong bài là quan điểm cá nhân của mình, có thể có những giới hạn2. The way the term “profound autism” is understood in this article is my own personal view, and it may have its limits
  • 3. Mọi quyết định về thuốc đều phải có sự tham khảo và giám sát của bác sĩ chuyên khoa các bạn nhé.3. Every decision about medication must be made in consultation with, and under the supervision of, a specialist doctor.
Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo hoặc Facebook. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo or Facebook.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 1 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 1 of 9

Não bộ khác biệt: vì sao hành vi của con lại như vậyA neurodivergent brain: why your child behaves the way they do

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Mẹ An đưa con trai 4 tuổi đi siêu thị Big C. Ở nhà, mẹ đã quen với việc con hay che tai khi tiếng TV to, hay khó chịu với mùi nước rửa chén, hay cần thời gian dài để chuyển từ chơi sang ăn cơm. Mẹ biết cách điều chỉnh: nhỏ tiếng TV, dùng nước rửa chén không mùi, báo trước 10 phút trước khi ăn.An's mother takes her four-year-old son to the Big C supermarket. At home she has grown used to it: he covers his ears when the television is loud, the smell of washing-up liquid bothers him, he needs a long time to move from playing to sitting down for a meal. She knows how to adjust — turn the television down, buy unscented washing-up liquid, give ten minutes' warning before the meal.

Nhưng ở siêu thị thì khác. Ánh đèn LED chói chang, tiếng loa thông báo khuyến mãi, mùi thức ăn từ khu đồ ăn, đám đông chen chúc... Tất cả những thứ mẹ không thể kiểm soát được. Con bắt đầu che tai, kéo áo mẹ, rồi bỗng nhiên nằm lăn ra sàn khóc thét. Mọi người nhìn, có người thầm thì.The supermarket is another matter. Glaring LED lights, announcements over the loudspeakers, the smell of food from the hot counter, the press of the crowd — none of it is hers to control. He starts covering his ears, pulling at her sleeve, and then suddenly he is on the floor, screaming. People look. Someone murmurs.

Mẹ An cảm thấy bối rối và bất lực. Cảm giác lo lắng quen thuộc lại trỗi dậy - nỗi e ngại mỗi khi phải đưa con ra ngoài, không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.An's mother feels lost and powerless. The familiar worry rises again — the dread of taking him out at all, never knowing what will happen next.

Nếu bạn từng trải qua tình huống tương tự, bạn không đơn độc. Và quan trọng hơn - bạn không hề làm sai gì cả.If you have lived through something like this, you are not alone. And more importantly, you have not done anything wrong.

Mình muốn chia sẻ với bạn một điều quan trọng: mỗi con có những đặc điểm não bộ riêng biệt ảnh hưởng đến cách con nhìn và phản ứng với thế giới. Hiểu được điều này, bạn sẽ ngừng tự trách bản thân và bắt đầu trở thành người hiểu con nhất.There is something I want to share with you: every child has their own brain characteristics, and those shape how they see the world and how they respond to it. Once you understand this, you can stop blaming yourself and start becoming the person who understands your child best.

Xử lý thông tin giác quan khác biệtSensory processing works differently

Tại sao cùng một không gian nhưng mẹ cảm thấy bình thường còn con lại "quá tải"?Why does the same place feel ordinary to a mother and overwhelming to her child?

Hãy thử đặt mình vào vị trí của An ở siêu thị:Put yourself in An's place in that supermarket:

  • Ánh đèn LED: Với mẹ là bình thường, với con như tia laser chói mắtLED lighting: ordinary to you, a laser in the eyes to him
  • Tiếng nhạc nền: Với mẹ là êm tai, với con như tiếng sét đánhBackground music: pleasant to you, a clap of thunder to him
  • Mùi thức ăn từ khu bán đồ ăn: Với mẹ là thơm ngon, với con là nồng nặc khó chịuThe smell from the food counter: appetising to you, overpowering to him
  • Đám đông: Với mẹ là sôi động, với con là hỗn loạn không thể chịu nổiThe crowd: lively to you, unbearable chaos to him

Một số con lại ngược lại - cần kích thích mạnh hơn mới cảm nhận được. Các con này hay:Some children are the opposite — they need stronger input before they register anything at all. These children tend to:

  • Chạm vào mọi thứ khi đi chợtouch everything while out shopping
  • Nói to, cần âm thanh lớnspeak loudly, and want loud sound around them
  • Thích nhảy nhót, xoay trònlove jumping and spinning
  • Khó ngồi yên một chỗfind it hard to stay seated

Hành vi "khó hiểu" của con chính là cách não bộ cố gắng điều chỉnh cảm giác cho phù hợp. Con không "hư" - con đang cố gắng “chịu đựng” trong môi trường quá tải với giác quan của mình.The behaviour that looks so puzzling is the brain's attempt to bring sensation back to a bearable level. Your child is not being naughty — your child is trying to endure an environment that is too much for their senses.

Chức năng điều hành chưa hoàn thiệnExecutive function is still developing

Trong não của chúng ta có một "giám đốc" điều hành mọi thứ: lập kế hoạch, kiểm soát cảm xúc, chuyển đổi hoạt động.In our brain there is a kind of director who runs everything: making plans, holding emotions steady, moving from one activity to the next.

Ở trẻ phát triển ổn định, vị "giám đốc" này làm việc khá mượt mà.In a typically developing child, that director works fairly smoothly.

Ở trẻ đặc biệt, vị "giám đốc" này còn đang học việc.In a child who needs support, the director is still learning the job.

Hơn nữa, với những đặc điểm về giác quan khác biệt, mỗi khi con của bạn cảm thấy khó chịu, thì ngay lập tức phản ứng của não bộ sẽ là: con khó chịu quá, phải thoát khỏi hoàn cảnh này/ hoặc con căng thẳng quá…On top of that, when a child's senses work differently, the moment something feels uncomfortable the brain's response is immediate: this is too much, I have to get out of here, I cannot take this.

Khi ấy, một cách tự động, vị “giám đốc” này còn tạm nghỉ, đợi cho đến khi cảm xúc của con ổn định. Do vậy, con sẽ:At that point the director steps out of the room automatically and waits until the child's feelings settle. So your child will:

  • Khó chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác (từ xem TV sang ăn cơm)struggle to move from one activity to another (from the television to the dinner table)
  • Cần nhiều thời gian để quyết địnhneed longer to make a decision
  • Dễ bị "kẹt" trong các mẫu hành viget stuck in a pattern of behaviour
  • Khó lên kế hoạch cho việc sắp tớifind it hard to plan for what is coming next

Đó là lý do tại sao khi bạn nói "5 phút nữa đi ăn cơm", con cần thời gian "chuyển máy" thay vì phản ứng ngay. Điều này có nghĩa rằng con đang cần thời gian xử lý.That is why, when you say “five more minutes and then dinner”, your child needs time to change gear rather than responding straight away. What looks like ignoring you is processing time.

Mối liên hệ ngôn ngữ-hành vi-cảm xúcLanguage, behaviour and emotion are linked

Với trẻ chậm nói, hành vi chính là ngôn ngữ. Con biết mình muốn gì, biết mình cảm thấy thế nào, nhưng não bộ gặp khó khăn trong việc chuyển những suy nghĩ đó thành lời nói.For a child with delayed speech, behaviour is the language. Your child knows what they want and knows how they feel, but the brain struggles to turn those thoughts into words.

Khi không thể diễn đạt được, con sẽ dùng cách khác để "nói":When they cannot say it, they will say it another way:

  • Kéo tay mẹ đến tủ lạnh = "Con đói"pulling your hand to the fridge = “I am hungry”
  • Ném đồ chơi = "Con không thích trò chơi này"throwing a toy = “I do not want this game”
  • La hét ở cửa = "Con muốn ra ngoài"screaming at the door = “I want to go outside”
  • Tự đánh đầu = "Con quá căng thẳng, không biết làm gì"hitting their own head = “I am overwhelmed and I do not know what to do”

Nhiệm vụ của chúng ta là trở thành "thông dịch viên" cho con, thay vì phán xét hành vi của con.Our task is to become our child's interpreter rather than the judge of their behaviour.

Từ "con hư" sang "não bộ khác biệt"From “a naughty child” to “a neurodivergent brain”

Những dấu hiệu con đang quá tải:Signs that your child is overloaded:

  • Che tai, che mắtcovering ears or eyes
  • Chạy khỏi chỗ đông ngườirunning away from crowded places
  • Từ chối đồ ăn thường thíchrefusing food they usually like
  • Không chịu mặc quần áo nhất địnhrefusing to wear particular clothes
  • Tự đánh đầu hoặc tự cắnhitting their own head or biting themselves
  • Nổi cơn ở nơi lạmelting down in unfamiliar places

Do vậy, sau khi đọc bài viết này, bạn hãy tự hướng nội và đặt cho mình 2 câu hỏi:So when you have finished reading this, turn inward and ask yourself two questions:

  1. Khi con có hành vi thách thức, mình có tự hỏi "Con đang cần gì?" thay vì "Tại sao con làm thế?"When my child's behaviour is difficult, do I ask “what does my child need?” rather than “why is my child doing this?”
  2. Mình có cố gắng tìm hiểu nguyên nhân thay vì chỉ "sửa" hành vi?Am I trying to understand the reason, or only to correct the behaviour?

Thông điệp của mình với bạn qua hai câu hỏi đó là: hãy hiểu trước, dạy sau.What I mean by those two questions is this: understand first, teach second.

Tạo môi trường phù hợpShaping the environment

Những điều bạn có thể làm ngay đối với các bạn có rối loạn về giác quan.Things you can do straight away for a child with sensory processing difficulties.

Khi đi chợ/siêu thị:At the market or supermarket:

  • Chọn giờ ít đông (sáng sớm, tối muộn)choose a quiet hour (early morning, late evening)
  • Nói trước với con: "Chúng ta sẽ đi chỗ có nhiều tiếng ồn, mẹ sẽ ôm con nếu con thấy khó chịu"tell your child beforehand: “we are going somewhere noisy, and I will hold you if it feels like too much”
  • Mang theo đồ chơi yêu thíchbring a favourite toy
  • Chuẩn bị sẵn kế hoạch "thoát hiểm" nếu con quá tảihave a way out ready in case your child becomes overloaded

Tại nhà:At home:

  • Tạo một góc yên tĩnh có gối ôm, chăn mềm để con "nghỉ ngơi não bộ"make a quiet corner with cushions and a soft blanket where your child's brain can rest
  • Giảm tiếng ồn không cần thiếtcut out noise that serves no purpose
  • Ánh sáng mềm mại vào buổi tốikeep the lighting soft in the evening

Khi hỗ trợ hành vi cho con, bạn hãy nhớ quan sát thay vì phán xét. Mỗi hành vi của con đều có lý do. Khi bạn hiểu, bạn sẽ thương con hơn, và tìm cách giúp con hiệu quả hơnWhen you are supporting your child's behaviour, remember to observe rather than judge. Every behaviour has a reason behind it. When you understand it, you will love your child more, and you will find better ways to help.

Mỗi con đều đặc biệt riêng - não bộ khác biệt không có nghĩa là kém cỏi. Việc hiểu được đặc điểm riêng của con sẽ giúp bạn trở thành người hỗ trợ tốt nhất cho con, thay vì vô tình trở thành nguồn căng thẳng.Every child is their own person — being neurodivergent does not mean being lesser. Understanding what is particular about your child is what allows you to become their best support, instead of becoming, without meaning to, another source of stress.

Bạn không cần phải "sửa" con. Bạn chỉ cần hiểu con để yêu thương con đúng cách.You do not need to fix your child. You only need to understand your child, so that you can love them well.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 2 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 2 of 9

Đừng cố dạy khi con chưa sẵn sàngDo not try to teach when your child is not ready

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Tuần trước chúng ta đã hiểu tại sao não bộ con hoạt động khác biệt. Hôm nay, mình muốn chia sẻ một nguyên tắc quan trọng mà nhiều cha mẹ - kể cả mình - từng mắc sai lầm: cố gắng dạy con khi con chưa sẵn sàng tiếp nhận.Last week we looked at why your child's brain works differently. Today I want to share an important principle that many parents — myself included — have got wrong: trying to teach a child who is not yet ready to take it in.

Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng trong thực tế, chúng ta thường làm ngược lại mà không hay biết.It sounds simple, but in practice we often do the opposite without realising it.

Não bộ điều hành và khả năng học tậpThe executive brain and the capacity to learn

Bạn có thể hình dung não bộ con như một chiếc máy tính. Khi con căng thẳng, lo lắng, hoặc quá tải, bộ xử lý trung tâm của con đang bận rộn xử lý cảm xúc và căng thẳng. Lúc này, phần não bộ điều hành - chịu trách nhiệm học tập, ghi nhớ, tập trung - sẽ bị "tạm nghỉ" tạm thời.You can picture your child's brain as a computer. When your child is stressed, anxious or overloaded, the central processor is busy handling emotion and stress. At that point the executive part of the brain — the part responsible for learning, remembering and concentrating — goes temporarily “off duty”.

Cố gắng dạy con lúc này giống như cố cài một chương trình mới vào máy tính đang bị lag. Không chỉ không thành công, mà còn có thể làm hỏng cả hệ thống.Trying to teach at that moment is like trying to install a new program on a computer that is already lagging. Not only will it fail, it can bring the whole system down.

Nhưng nhiều lúc, áp lực cuộc sống khiến chúng ta quên mất điều này. Chúng ta muốn con học nhanh, tiến bộ ngay, và thường xuyên "đi ngược" với nhu cầu thực sự của con.But the pressures of daily life often make us forget this. We want our child to learn quickly and make progress straight away, and we regularly end up “going against” what our child actually needs.

Nền tảng khoa học: window of toleranceThe science behind it: the window of tolerance

Vậy, làm sao để có thể đọc được các tín hiệu của con để biết khi nào nên dạy, khi nào nên dừng ngay cả khi con chưa thể nói ra? Mình sẽ giới thiệu một cách tiếp cận mà các nhà khoa học trên thế giới khuyên dùng, đó là Window of Tolerance của Dan Siegel.So how can you read your child's signals and know when to teach and when to stop, even when your child cannot tell you? I want to introduce an approach that researchers around the world recommend: Dan Siegel's Window of Tolerance.

Window of Tolerance - Vùng ổn định - là khái niệm mô tả các trạng thái khác nhau của não bộ con:The Window of Tolerance is a concept that describes the different states your child's brain can be in:

VÙNG XANH - Con sẵn sàng học:Green zone — your child is ready to learn:

  • Con bình tĩnh, tò mòcalm and curious
  • Có thể tập trung và tiếp nhận thông tin mớiable to concentrate and take in new information
  • Phản ứng phù hợp với tình huốngresponds in a way that fits the situation

VÙNG VÀNG - Con bắt đầu căng thẳng:Yellow zone — your child is starting to feel stressed:

  • Con còn có thể giao tiếp nhưng đã có dấu hiệu stressstill able to communicate, but already showing signs of stress
  • Cần hỗ trợ để quay về vùng xanhneeds support to come back to the green zone
  • Có thể học được nếu được điều chỉnh kịp thờican still learn if adjustments are made in time

VÙNG ĐỎ - Con quá tải hoàn toàn:Red zone — your child is completely overloaded:

  • Con không thể học được gì cảcannot learn anything at all
  • Cần thời gian và hỗ trợ để ổn định trướcneeds time and support to settle first
  • Mọi việc dạy dỗ lúc này đều phản tác dụngany teaching at this point works against you

Hiểu được điều này, chúng ta sẽ biết khi nào nên dạy, khi nào nên thôi.Once you understand this, you will know when to teach and when to stop.

Học tập từ các tình huống thường gặpLearning from everyday situations

Tình huống 1: dạy bảo ngay khi trẻ làm hỏng đồSituation 1: correcting your child the moment something gets broken

Tình huống: Con làm đổ nước, ném đồ chơi, hay xé sách.The situation: your child spills water, throws a toy, or tears a book.

Phản ứng thường gặp: "Tại sao con làm thế? Con không được làm vậy!"The usual response: “Why did you do that? You are not allowed to do that!”

Cảm xúc của con lúc này: Con đang cảm thấy bối rối, có thể tức giận hoặc sợ hãi vì biết mình "làm sai" do đó con chưa thể xử lý được thông tin logic.What your child is feeling: your child is confused, perhaps angry or frightened at knowing they have “done something wrong”, and so cannot process logical information yet.

Cách làm đúng:What to do instead:

Bước 1: Giúp con bình tĩnh trước (cùng con hít thở sâu, hoặc cho con một mình)Step 1: help your child calm down first (breathe deeply together, or give your child some time alone)

Bước 2: Khi con đã ổn, hỏi nhẹ nhàng: "Con có thể kể cho mẹ chuyện gì đã xảy ra không?"Step 2: once your child is settled, ask gently: “Can you tell me what happened?”

Bước 3: Cùng con dọn dẹp và tìm cách tránh lần sauStep 3: clear up together and work out how to avoid it next time

Tình huống 2: ÉP HOẠT ĐỘNG TĨNH KHI TRẺ CÓ NHIỀU NHU CẦU VẬN ĐỘNGSituation 2: forcing a quiet activity on a child with a high need for movement

Tình huống: Con nhảy nhót, lăn lộn, không ngồi yên được.The situation: your child jumps about, rolls around, cannot sit still.

Phản ứng thường gặp: "Ngồi xuống tô màu đi!" "Làm bài tập vận động tinh này!"The usual response: “Sit down and colour!” “Do this fine motor exercise!”

Vấn đề chuyên môn: Con có thể đang tìm kiếm các kích thích cho hệ tiền đình để điều hòa mức độ tỉnh táo. Khi nhu cầu này chưa được đáp ứng đủ, não bộ con không thể duy trì trạng thái tập trung và bình tĩnh. Ép con ngồi yên lúc này khiến con càng mất điều hòa hơn. Ở đây, bạn hãy tạm hiểu “điều hoà” có nghĩa là giúp cơ thể con ổn định, bình tĩnh.What is going on professionally: your child may be seeking vestibular input in order to regulate their level of alertness. Until that need is met, your child's brain cannot hold a calm, focused state. Forcing your child to sit still at this point only leaves them more dysregulated. For now, take “regulation” to mean helping your child's body settle and become calm.

Cách làm đúng:What to do instead:

Bước 1: Cung cấp kích thích tiền đìnhStep 1: provide vestibular input

Bước 2: Quan sát dấu hiệu cơ thể con đang ổn định: con ngồi được yên hơn, mắt có thể theo dõi, nhịp điệu cơ thể bình ổn hơn.Step 2: watch for the signs that your child's body is settling: sitting more still, eyes able to follow, a steadier rhythm to the body.

Bước 3: Khi mức tỉnh táo đã phù hợp, mời con thực hiện hoạt động yêu cầu chú ý lâu dàiStep 3: once the level of alertness is right, invite your child into an activity that needs sustained attention

Tình huống 3: khi trẻ có phản ứng tránh né xúc giácSituation 3: when your child avoids tactile input

Tình huống: Con tránh né đất sét, màu nước, keo dán, hoặc các học liệu khác.The situation: your child avoids clay, paint, glue, or other materials.

Phản ứng thường gặp: "Không sao đâu, chạm vào đi!”, hoặc ép trẻ thử khi con chưa sẵn sàng.The usual response: “It's fine, just touch it!”, or pushing your child to try before they are ready.

Vấn đề chuyên môn: Con có phản ứng tránh né các kích thích xúc giác - do con quá nhạy cảm khi sờ, chạm vào các chất liệu khác nhau. Khi hệ xúc giác bị quá tải, phản ứng tự vệ được kích hoạt, khiến con không thể sử dụng tư duy bậc cao và khả năng chú ý kém. Ép tiếp xúc làm tăng phản ứng phòng thủ và ngăn cản việc học.What is going on professionally: your child is avoiding tactile input because they are oversensitive to touching different textures. When the tactile system is overloaded, a defensive response is triggered, which leaves your child unable to use higher-order thinking and poorly able to attend. Forcing contact increases the defensive response and blocks learning.

Cách làm đúng:What to do instead:

Bước 1: Tôn trọng ngưỡng chịu đựng giác quan của con, làm quen từ từStep 1: respect your child's sensory threshold and introduce things slowly

Bước 2: Cung cấp kích thích cảm giác để làm dịu hệ thần kinhStep 2: provide sensory input that calms the nervous system

Bước 3: Khi hệ thống xúc giác đã điều hòa, giới thiệu vật liệu theo từng bướcStep 3: once the tactile system is regulated, introduce the material step by step

Tình huống 4: ÉP ĂN KHI TRẺ CÓ RỐI LOẠN GIÁC QUAN VÙNG MIỆNGSituation 4: forcing a child with oral sensory difficulties to eat

Tình huống: Con từ chối ăn, đẩy bát, hoặc ném thức ăn.The situation: your child refuses to eat, pushes the bowl away, or throws food.

Phản ứng thường gặp: "Ăn đi!" Hoặc ép ăn, hoặc đi đến cực đoan là để đói.The usual response: “Eat it!” — or forcing the food down, or going to the other extreme and letting your child go hungry.

Vấn đề chuyên môn: Con có vấn đề xử lý giác quan vùng miệng - quá nhạy cảm với vị, kết cấu, nhiệt độ, hoặc mùi của thức ăn. Khi hệ thống giác quan miệng bị quá tải, con kích hoạt phản ứng tự vệ và không thể duy trì trạng thái bình tĩnh cần thiết cho việc ăn. Ép ăn làm tăng sự lo lắng về ăn uống.What is going on professionally: your child has difficulty with oral sensory processing — oversensitive to the taste, texture, temperature or smell of food. When the oral sensory system is overloaded, your child's defensive response is triggered and they cannot hold the calm state that eating requires. Forcing food increases anxiety around eating.

Cách làm đúng:What to do instead:

Bước 1: Đánh giá sở thích giác quan - con chấp nhận được kết cấu/vị nàoStep 1: work out your child's sensory preferences — which textures and tastes your child can accept

Bước 2: Làm dịu hệ thần kinh - bỏ áp lực, tạo môi trường ăn uống tích cựcStep 2: calm the nervous system — take the pressure away and make mealtimes positive

Bước 3: Mở rộng chế độ ăn dựa trên đặc điểm giác quan - từ từ giới thiệu kết cấu/vị tương tựStep 3: widen the diet from those sensory characteristics — introduce similar textures and tastes slowly

Từ những ví dụ trên, bạn thấy, việc hiểu nhu cầu và những biểu hiện của con là vô cùng quan trọng. Đặc biệt, bạn nhận ra một số biểu hiện của con mà nhiều người cho rằng đó là những hành vi sai, hoặc là những hành vi “hư”, thực chất lại chính là những nhu cầu về giác quan, những khó khăn mà con cần chúng ta thấu hiểu, rồi mới giúp con. Phải không bạn.From these examples you can see how important it is to understand your child's needs and the way your child shows them. In particular, you will recognise that some of the things your child does — things many people treat as wrong behaviour, or as a child being “naughty” — are in fact sensory needs, difficulties your child has that we need to understand before we can help. Don't you think?

Nếu bạn đọc đến đoạn này và nhận ra rằng, mình cần tìm hiểu về những vấn đề giác quan của con, thì hãy bắt đầu đi nhé.If you have read this far and realised that you need to learn about your child's sensory difficulties, then do make a start.

Tại sao chúng ta hay vội vàng?Why are we always in such a hurry?

Thực ra, mình hiểu tâm lý của cha mẹ. Chúng ta muốn con học nhanh, tiến bộ ngay, sợ con "thua" bạn bè. Chúng ta có áp lực từ gia đình, từ xã hội, từ chính bản thân mình.I do understand how parents feel. We want our child to learn quickly, to make progress right away, and we are afraid of our child “falling behind” other children. We have pressure from the family, from society, and from ourselves.

Nhưng sự thật là: những gì chúng ta "tiết kiệm" được hôm nay bằng cách vội vàng, chúng ta sẽ không thể giúp con đúng cách. Con có thể sẽ sợ học, kháng cự nhiều hơn, và mất niềm tin vào chính bản thân, vào chính người lớn đó bạn ạ.But the truth is this: what we “save” today by hurrying costs us the chance to help our child properly. Your child may come to fear learning, resist more, and lose faith in themselves and in the adults around them.

Ngược lại, khi chúng ta kiên nhẫn chờ con sẵn sàng, con sẽ học nhanh hơn, nhớ lâu hơn, và quan trọng nhất - con sẽ yêu thích việc học.When we are patient and wait until our child is ready, the opposite happens: your child learns faster, remembers longer, and — most importantly — comes to love learning.

Do vậy, bạn hãy nhớ: Con bạn không phải máy móc có thể bật tắt theo ý muốn. Hãy hiểu và tôn trọng nhịp độ của con chính là cách yêu thương con sâu sắc nhất.So remember: your child is not a machine you can switch on and off as you please. Understanding and respecting your child's own pace is the deepest way of loving them.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 3 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 3 of 9

Hành vi là cách con giao tiếp với chúng taBehaviour is how your child talks to us

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Hai tuần qua chúng ta đã hiểu não bộ con khác biệt như thế nào và biết được thời điểm phù hợp để dạy con. Hôm nay, chúng ta sẽ khám phá một góc nhìn nữa, đó là: Mỗi hành vi đều là cách con đang cố gắng giao tiếp với chúng ta.Over the past two weeks we have looked at how your child's brain is different, and at how to recognise the right moment to teach them. Today we will explore one more way of seeing things: every behaviour is your child trying to communicate with us.

Thông điệp mình muốn chia sẻ với các rằng: con không “h/ư” hay "bướng bỉnh" - con đang dùng ngôn ngữ duy nhất mà con biết để "nói chuyện" với chúng ta.The message I want to share with you is this: your child is not “naughty” or “stubborn” — your child is using the only language they have to “talk” to us.

Hành vi = cách con giao tiếpBehaviour = how your child communicates

Hãy thử tưởng tượng bạn đang ở một đất nước mà bạn không biết ngôn ngữ. Bạn đói, bạn mệt, bạn cần giúp đỡ - bạn sẽ làm gì?Imagine you are in a country whose language you do not speak. You are hungry, you are tired, you need help — what do you do?

Bạn sẽ chỉ tay, cử chỉ, thậm chí có thể la hét để người khác hiểu bạn cần gì.You point, you gesture, you might even shout, so that someone understands what you need.

Con cũng vậy. Mỗi hành vi đều có mục đích. Con đang cố gắng nói với chúng ta điều gì đó quan trọng, chỉ là con chưa có đủ từ ngữ hoặc kỹ năng để diễn đạt một cách "đúng mực" theo chuẩn người lớn.It is the same for your child. Every behaviour has a purpose. Your child is trying to tell us something important; they simply do not yet have the words or the skills to say it “properly”, by adult standards.

Nhiệm vụ của chúng ta không phải là ngăn chặn hành vi ngay lập tức, mà là trở thành "thông dịch viên" - hiểu con muốn nói gì và dạy con cách diễn đạt tốt hơn.Our task is not to stop the behaviour on the spot, but to become the “interpreter” — to understand what your child means and to teach them a better way to say it.

Bốn thông điệp chính qua hành viFour main messages behind behaviour

Hãy cùng tìm hiểu nhé!Let's take a look at them.

THÔNG ĐIỆP 1: "CON CẦN THOÁT RA!"Message 1: “I need to get out!”

Khi nào xuất hiện: Con cảm thấy choáng ngợp, quá tải, hoặc tình huống hiện tại quá khó với con.When it appears: your child feels overwhelmed, overloaded, or the situation is simply too hard for them.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Ném sách, đẩy đồ chơi ra xa, chạy ra khỏi phòng, nằm lăn trên sàn, che mặt bằng tay.Behaviour you might see: throwing books, pushing toys away, running out of the room, lying down on the floor, covering their face with their hands.

Con đang muốn nói: "Mẹ ơi, con không biết làm thế nào! Việc này quá khó với con!"What your child means: “Mum, I do not know how to do this! This is too hard for me!”

Ví dụ thực tế: Khi bạn đang dạy con làm bài tập toán, con đột nhiên ném cuốn vở xuống đất và chạy đi. Con không phải "không chịu học" - con đang nói "Bài này khó quá, con cần được giúp đỡ!"A real example: you are helping your child with their maths homework and they suddenly throw the exercise book on the floor and run off. Your child is not “refusing to study” — your child is saying “This is too hard, I need help!”

THÔNG ĐIỆP 2: "CON MUỐN CÁI ĐÓ!"Message 2: “I want that!”

Khi nào xuất hiện: Con có nhu cầu cụ thể chưa được đáp ứng - có thể là đói, khát, muốn chơi, hoặc cần một thứ gì đó.When it appears: your child has a specific need that has not been met — they may be hungry, thirsty, wanting to play, or needing something.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Khóc, kéo tay mẹ, chỉ tay mạnh mẽ, nổi cơn giận, có thể cắn hoặc đánh.Behaviour you might see: crying, pulling at your hand, pointing hard, having a tantrum, sometimes biting or hitting.

Con đang muốn nói: "Con cần thứ này ngay! Con không biết cách xin một cách khác!"What your child means: “I need this now! I do not know how else to ask!”

Ví dụ thực tế: Con kéo mạnh tay bạn đến tủ lạnh và khóc. Con không "hư" - con đang nói "Con đói/khát và con cần mẹ giúp con lấy thức ăn!"A real example: your child pulls you hard towards the fridge and cries. Your child is not “naughty” — your child is saying “I am hungry or thirsty and I need you to help me get food!”

THÔNG ĐIỆP 3: "CƠ THỂ CON CẦN CÂN BẰNG!"Message 3: “My body needs to find its balance!”

Khi nào xuất hiện: Hệ thần kinh của con cần được điều chỉnh - có thể con đang căng thẳng, lo lắng, hoặc cần giải tỏa năng lượng.When it appears: your child's nervous system needs regulating — they may be tense, anxious, or in need of an outlet for their energy.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Đập tay vào người, xoay tròn, nhảy lên nhảy xuống, gặm móng, đung đưa người, chạy vòng quanh.Behaviour you might see: hitting themselves, spinning, jumping up and down, chewing their nails, rocking, running round in circles.

Con đang muốn nói: "Cơ thể con cần được giải tỏa! Con cần cảm giác an toàn!"What your child means: “My body needs release! I need to feel safe!”

Ví dụ thực tế: Sau một ngày dài ở trường, con về nhà và liên tục nhảy lên nhảy xuống. Con không "hiếu động quá mức" - con đang giải tỏa stress tích tụ trong ngày.A real example: after a long day at school your child comes home and jumps up and down without stopping. Your child is not “hyperactive” — your child is releasing the stress that has built up over the day.

THÔNG ĐIỆP 4: "CON MUỐN MẸ CHÚ Ý!"Message 4: “I want Mum to notice me!”

Khi nào xuất hiện: Con cảm thấy cô đơn, muốn được kết nối, hoặc cần sự quan tâm từ người thân.When it appears: your child feels lonely, wants connection, or needs attention from the people close to them.

Hành vi bạn có thể nhìn thấy: Làm hỏng đồ, gây rối khi mẹ bận, cắn hoặc đánh khi có khách, tự làm tổn thương nhẹ.Behaviour you might see: breaking things, playing up when you are busy, biting or hitting when visitors are there, hurting themselves in small ways.

Con đang muốn nói: "Con cần mẹ! Con muốn cảm nhận tình yêu của mẹ!"What your child means: “I need you! I want to feel your love!”

Ví dụ thực tế: Khi bạn đang nói chuyện điện thoại, con đến kéo áo và làm rơi cốc nước. Con không "phá phách" - con đang nói "Mẹ ơi, con cũng cần mẹ chú ý đến con!"A real example: while you are on the phone your child comes over, pulls at your shirt and knocks over a glass of water. Your child is not “making trouble” — your child is saying “Mum, I need you to notice me too!”

Tại sao con không nói trực tiếp?Why does my child not just say it?

Có những lý do rất dễ hiểu tại sao con lại hành xử thay vì nói:There are very understandable reasons why your child acts instead of speaking:

Con đơn giản là chưa biết cách nói. Làm sao con có thể nói "Con cảm thấy quá tải" khi con 3 tuổi và chưa hiểu từ "quá tải" là gì?Your child simply does not yet know how to say it. How could they say “I feel overloaded” at 3 years old, when they do not yet know what the word “overloaded” means?

Hành vi có hiệu quả ngay lập tức. Khi con ném đồ chơi, chắc chắn ai cũng nhìn ngay.Behaviour works straight away. When your child throws a toy, everyone looks at once.

Con đã học được: "Làm như thế này thì có người đến giúp con ngay." Đây là cách học hoàn toàn tự nhiên của trẻ.Your child has learned: “If I do this, someone comes and helps me right away.” This is a completely natural way for a child to learn.

Nhiều con đặc biệt còn chưa có khả năng nói được, nên hành vi là ngôn ngữ duy nhất mà con có.Many children with additional needs cannot speak yet, so behaviour is the only language they have.

Và điều quan trọng là - đây không phải lỗi của con, cũng không phải lỗi của chúng ta. Đó chỉ là cách tự nhiên mà con đang học cách giao tiếp với thế giới.And the important thing is this — it is not your child's fault, and it is not ours either. It is simply the natural way your child is learning to communicate with the world.

Cách hiểu và hỗ trợ conHow to understand and support your child

Bước 1: Quan sát như một "thám tử"Step 1: observe like a “detective”

Thay vì chỉ tập trung vào hành vi, hãy quan sát toàn bộ "bức tranh":Instead of focusing on the behaviour alone, look at the whole “picture”:

Quan sát ngôn ngữ cơ thể: Con có nhíu mày không? Vai có cứng không? Tay có run không? Mắt có tránh nhìn không?Observe body language: is your child frowning? Are their shoulders tight? Are their hands shaking? Are they avoiding eye contact?

Quan sát bối cảnh: Điều gì vừa xảy ra trước khi con có hành vi? Môi trường có ồn ào không? Có ánh sáng chói không? Có mùi lạ không?Observe the context: what happened just before the behaviour? Is the environment noisy? Is the light glaring? Is there an unfamiliar smell?

Quan sát thời gian: Con đói chưa? Buồn ngủ chưa? Đã ngồi yên quá lâu chưa?Observe the timing: is your child hungry? Sleepy? Have they been sitting still for too long?

Lắng nghe những gì con nói (nếu có): Có thể con đã cố gắng nói nhưng chúng ta không để ý, hoặc con nói nhỏ quá.Listen to what your child says, if they say anything: they may have tried to tell us and we did not notice, or they spoke too quietly.

Nhớ rằng, không phải hành vi nào cũng cần được "dịch" bằng lời nói. Đôi khi, việc quan sát và hiểu là đủ.Remember that not every behaviour needs to be “translated” into words. Sometimes observing and understanding is enough.

Bước 2: Dạy con cách giao tiếp phù hợpStep 2: teach your child a suitable way to communicate

Nếu con đã nói được: Dạy con những cụm từ đơn giản và thực tế:If your child can speak: teach them simple, practical phrases:

  • “Con cần nghỉ" thay vì ném đồ“I need a break” instead of throwing things
  • “Con muốn ăn" thay vì kéo tay mẹ“I want to eat” instead of pulling at your hand
  • “Con cần ôm" thay vì đánh người khác“I need a hug” instead of hitting someone
  • “Giúp con" khi gặp khó khăn“Help me” when something is difficult

Nếu con chưa nói được: Tạo ra những cử chỉ quy ước mà cả nhà đều hiểu:If your child cannot speak yet: create agreed gestures that the whole family understands:

  • Đưa tay ra hiệu "stop" khi cần nghỉholding a hand up to signal “stop” when they need a break
  • Chỉ tay vào miệng khi đói/khátpointing to their mouth when hungry or thirsty
  • Vỗ nhẹ vào tay mẹ khi cần chú ýpatting your hand gently when they need attention
  • Ôm lấy chính mình khi cần được ômhugging themselves when they need a hug
  • Đưa ra "thẻ giúp đỡ" khi cần hỗ trợhanding over a “help card” when they need support

Bước 3: Thực hành kiên nhẫn và thực tếStep 3: practise with patience and realism

Bắt đầu từ những lúc con bình tĩnh. Đừng cố dạy con cách mới khi con đang trong cơn giận. Hãy luyện tập khi con đang vui vẻ.Start at times when your child is calm. Do not try to teach something new while your child is in the middle of a tantrum. Practise while they are happy.

Khen con ngay khi con cố gắng. Dù con chưa làm đúng hoàn toàn, hãy ghi nhận nỗ lực của con: "Mẹ thấy con đang cố gắng nói với mẹ! Tuyệt vời!"Praise your child the moment they try. Even if they have not got it quite right, recognise the effort: “I can see you are trying to tell me! Well done!”

Chấp nhận rằng con sẽ cần thời gian. Đừng mong đợi con thay đổi ngay trong 1-2 ngày. Hãy kiên nhẫn và nhất quán.Accept that your child will need time. Do not expect change in one or two days. Be patient and be consistent.

Chăm sóc bản thân. Việc hiểu và dạy con như thế này rất tốn năng lượng. Hãy nghỉ ngơi và tìm sự hỗ trợ khi cần.Look after yourself. Understanding and teaching your child this way takes a great deal of energy. Rest, and find support when you need it.

Bạn biết không,You know,

Khi chúng ta bắt đầu "nghe" được ngôn ngữ hành vi của con, chúng ta không chỉ giúp con giao tiếp tốt hơn mà còn xây dựng được mối liên kết sâu sắc hơn với con. Con sẽ cảm thấy được hiểu, được yêu thương và an toàn hơn.When we begin to “hear” our child's language of behaviour, we are not only helping them communicate better — we are also building a deeper bond with them. Your child will feel understood, loved and safer.

Tuy nhiên, thực tế nuôi dạy con không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Có những lúc con thực sự đang quá tải và cần được hỗ trợ ngay lập tức, nhưng cũng có những lúc con chỉ đang "thử thách" để xem phản ứng của chúng ta.That said, raising a child is not always this straightforward in practice. There are times when your child really is overloaded and needs support immediately, and other times when your child is only “testing” to see how we react.

Bài tiếp theo mình sẽ giúp các bạn: Phân biệt khi nào con thực sự quá tải và khi nào con đang thử thách ranh giới, để chúng ta có thể phản ứng một cách phù hợp và hiệu quả nhất cho từng tình huống cụ thể.In the next article I will help you tell the difference between a child who is genuinely overloaded and a child who is testing the boundaries, so that we can respond in the way that fits each particular situation best.

Hãy kiên trì bạn nhé,Stay with it,

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 4 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 4 of 9

Khi nào thì ôm, khi nào thì nghiêm?When to hold your child, and when to hold firm

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Mình hiểu sự day dứt này. Nhiều lúc nhìn con khóc, các bà mẹ thường khó xử, chỉ muốn ôm con vào lòng. Nhưng cũng có lúc, các mẹ biết rằng nếu "nhượng bộ" lần này, con sẽ dùng chiêu khóc lóc để đạt được những thứ con muốn trong tương lai. Và đó là một hệ quả thật là “mệt mỏi” phải không nào.I know how much this weighs on you. Watching your child cry, you feel torn, and all you want is to gather them into your arms. But there are also moments when you know that if you “give in” this time, your child will use crying to get what they want next time. And that is an exhausting thing to live with, isn't it.

Như mình quan sát thấy, một số cha mẹ chưa phân biệt được khi nào thì con cần an ủi, vỗ về, khi nào thì nên kiên định bởi vì: 1) yêu con rất nhiều nên điều gì con làm cũng thấy thật dễ thương và dễ chấp nhận và bỏ qua, 2) chưa có kỹ năng phân biệt được hành vi của con, 3) không kiên định với cách làm của mình, và có hơi ỷ lại vào người khác trong việc kiểm soát con, và 4) đi theo một hướng cực đoan (hoặc luôn sẽ mắng, hoặc luôn sẽ chiều theo ý của con)… Hihi, là vậy đấy… phải không các ba mẹ.From what I have seen, some parents cannot yet tell when their child needs comforting and soothing and when they need you to hold firm, because: 1) they love their child so much that everything the child does looks sweet, and easy to accept and let go; 2) they do not yet have the skill to tell their child's behaviours apart; 3) they are not consistent in their own approach, and lean a little on other people to manage the child; and 4) they go to one extreme or the other — always scolding, or always giving in to whatever the child wants. That is how it goes, isn't it.

Và bạn có biết không: cũng là biểu hiện của khóc to, la hét, có thể ném đồ. Nhìn bề ngoài thì biểu hiện giống nhau, nhưng nguyên nhân và cách xử lý hoàn toàn khác. Các bạn đọc ở bên dưới nhé.And here is something worth knowing: in both cases what you see is loud crying, screaming, perhaps throwing things. From the outside the two look the same, but the cause and the way you handle them are completely different. Read on below.

Đây là một vài tình huống con cần sự an ủi và làm dịu cảm xúc trướcSituations where your child needs comfort and soothing first

  1. CON THỰC SỰ QUÁ TẢI CẢM XÚCYour child is genuinely in emotional overload

Lúc này con cảm thấy quá tải về cảm xúc, như một cái bình nước đã đầy mà vẫn tiếp tục đổ thêm - cuối cùng bị tràn ra ngoài. Mọi thứ không còn điều khiển được, con dễ bột phát, vỡ oà. Một số trẻ còn rất khó để xoa dịu.At this point your child is overwhelmed by emotion, like a jug that is already full and is still being filled — in the end it spills over. Nothing is under their control any more; they erupt easily, and everything bursts out. Some children are very hard to soothe.

Ví dụ: Bé An sau ngày dài ở trường, tham gia sinh nhật với tiếng nhạc to, đèn nháy. Điều này khiến các giác quan của bé phải làm việc quá nhiều, con dễ quá tải về cảm giác, và cảm xúc lúc đó thật lộn xộn, khó chịu. Cuối ngày, chỉ vì mẹ nói " Cất đồ chơi đi An, đi tắm", mà con khóc to, ném đồ và không thể dừng lại.For example: An has had a long day at school and then a birthday party with loud music and flashing lights. His senses have had to work far too hard, he tips easily into sensory overload, and his feelings are in disarray and uncomfortable. At the end of the day, all it takes is “Put the toys away, An, time for your bath”, and he is crying loudly, throwing things, and unable to stop.

  1. CON ĐANG SỢ HÃI, LO LẮNGYour child is frightened or anxious

Ví dụ: Con khóc vì sợ tiếng sấm, sợ bác sĩ, sợ đi học ngày đầu tiên.For example: your child cries because they are frightened of thunder, frightened of the doctor, frightened of the first day at school.

  1. CON KHÔNG BIẾT CÁCH NÓI RA ĐIỀU MÌNH MUỐNYour child cannot say what they want

Ví dụ: Con 2 tuổi khóc vì muốn nước nhưng chưa nói được, hoặc không biết cách nói ra được cảm xúc và suy nghĩ bên trong của mình.For example: a 2-year-old cries because they want water but cannot yet say so, or cannot put into words the feelings and thoughts inside.

  1. CON ỐM, KHÔNG KHỎEYour child is ill or unwell

Ví dụ: Con quấy khóc vì đang ốm, mọc răng, hoặc cảm thấy không thoải mái về thể chất.For example: your child is fretful because they are ill, or teething, or physically uncomfortable.

  1. CON ĐANG BUỒN VÌ LÝ DO KHÁCYour child is upset about something else

Ví dụ: Con buồn vì bạn không chơi cùng, vì mất đồ chơi yêu thích, vì thay đổi bất ngờ trong ngày.For example: your child is sad because a friend would not play with them, because a favourite toy is lost, because something in the day changed unexpectedly.

→ Tất cả những tình huống trên đều cần: ôm ấm, an ủi vì điều này giúp não bộ con bình tĩnh lại. Khi được vỗ về, não bộ con sẽ từ từ chuyển từ trạng thái "báo động" về trạng thái "an toàn". Việc mẹ ở bên, nói nhỏ nhẹ sẽ giúp hệ thần kinh con tự điều chỉnh và ổn định trở lại.→ All of the situations above call for a warm hug and comforting, because that is what helps your child's brain calm down. When your child is soothed, the brain moves slowly out of “alarm” and back into “safe”. Your being there, speaking softly, is what helps their nervous system regulate itself and settle again.

KHI CON CẦN AN ỦI TRƯỚC (các tình huống 1-5 ở trên):When your child needs comfort first (situations 1–5 above):

Làm gì:What to do:

  • Đưa con đến chỗ yên tĩnhtake your child somewhere quiet
  • Ngồi gần con, có thể ôm nhẹsit close to them, and hold them gently if that helps
  • Nói nhỏ: "Mẹ ở đây với con. Con [mệt/sợ/buồn] lắm phải không? Mẹ hiểu."speak softly: “I am here with you. You are [tired / frightened / sad], aren't you? I understand.”
  • Chờ con tự bình tĩnh, không vội dạy bảowait for your child to calm down on their own, and do not rush into teaching
  • Sau khi con đã ổn định, mới nói về quy tắc (nếu cần)only once your child has settled, talk about the rule (if it is needed)

CÒN ĐÂY LÀ NHỮNG KHI CON ĐANG "TEST" XEM MẸ CÓ ĐỔI Ý KHÔNGAnd here are the times when your child is “testing” whether you will change your mind

Bạn sẽ thấy Con vẫn có thể suy nghĩ và quan sát phản ứng của mẹ. Con đang thử xem liệu cách này có giúp mình đạt được điều mình muốn không.You will notice that your child can still think and still watch how you react. They are trying this out to see whether it will get them what they want.

Ví dụ: Bé Minh đang chơi iPad, mẹ báo "5 phút nữa tắt nhé". Đến giờ, bé khóc to và liếc nhìn mẹ trong lúc khóc, xem mẹ có đổi ý không.For example: Minh is playing on the iPad and you tell him “five more minutes and then it goes off”. When the time comes, he cries loudly and glances at you while he is crying, to see whether you will change your mind.

→ Lúc này con cần sự kiên định nhưng ấm áp. Việc giữ vững ranh giới giúp não bộ con học được rằng có những quy tắc cần tuân thủ, giúp con phát triển khả năng tự kiểm soát và hiểu được ranh giới an toàn trong cuộc sống.→ What your child needs now is firmness that is still warm. Holding the boundary is how your child's brain learns that there are rules to be followed; it is what builds self-control and an understanding of where the safe limits lie in life.

Khi con đang test - cần kiên định:When your child is testing — hold firm:

Làm gì:What to do:

  • Thừa nhận cảm xúc: "Mẹ thấy con giận vì không được chơi tiếp."acknowledge the feeling: “I can see you are cross because you cannot carry on playing.”
  • Giữ vững quy tắc: "Nhưng bây giờ là giờ tắt iPad rồi."hold the rule: “But it is time for the iPad to go off now.”
  • Kiên định: "Con có thể khóc, mẹ vẫn ở đây, nhưng iPad vẫn phải tắt."stay firm: “You can cry, and I am still here, but the iPad still has to go off.”

Ví dụ thực tế giúp bạn thực hành tại nhàReal examples to practise at home

Ví dụ 1: Con khóc vì không được iPad - NHƯNG con mệtExample 1: your child cries because they cannot have the iPad — but your child is tired

  • Thời điểm: 7h tối, sau ngày học dàiwhen: 7pm, after a long day at school
  • Biểu hiện: Con khóc không ngừng, không nhìn mẹwhat you see: your child cries and cannot stop, and does not look at you
  • Xử lý: "Con mệt quá rồi. Mẹ hiểu con muốn chơi nhưng giờ con cần nghỉ. Mẹ ở đây với con." → An ủi trước, sau đó mới nói về giờ nghỉwhat to do: “You are so tired. I know you want to play, but right now you need a rest. I am here with you.” → Comfort first, and only afterwards talk about rest time

Ví dụ 2: Con khóc vì không được iPad - NHƯNG con đang testExample 2: your child cries because they cannot have the iPad — but your child is testing

  • Thời điểm: 3h chiều, con đầy tỉnh táowhen: 3pm, your child is wide awake
  • Biểu hiện: Con khóc nhưng vẫn liếc nhìn mẹwhat you see: your child cries but keeps glancing at you
  • Xử lý: "Con muốn chơi tiếp, mẹ hiểu. Nhưng giờ là lúc nghỉ iPad rồi." → Kiên địnhwhat to do: “You want to keep playing, I know. But it is time for a break from the iPad.” → Hold firm

Ví dụ 3: Con khóc vì sợ bác sĩExample 3: your child cries because they are frightened of the doctor

  • Biểu hiện: Con khóc, ôm chặt mẹ, run rẩywhat you see: your child cries, clings to you, trembles
  • Xử lý: "Con sợ bác sĩ phải không? Mẹ hiểu. Sợ là bình thường. Mẹ ở đây với con." → An ủi trước, không bắt con "ngoan" ngay lập tứcwhat to do: “You are frightened of the doctor, aren't you? I understand. Being frightened is normal. I am here with you.” → Comfort first, and do not insist that your child be “good” straight away

Ví dụ 4: Con 2 tuổi khóc vì muốn nướcExample 4: a 2-year-old cries because they want water

  • Biểu hiện: Con khóc, kéo áo mẹ, chỉ về phía bếpwhat you see: your child cries, tugs at your shirt, points towards the kitchen
  • Xử lý: "Con muốn gì đó ở bếp phải không? Con buồn vì chưa nói được. Mẹ giúp con nhé." → Giúp con express + an ủiwhat to do: “You want something in the kitchen, don't you? You are upset because you cannot say it yet. Let me help you.” → Help your child express it, and comfort them

Bạn thân mến, hiểu được khi nào con cần an ủi và khi nào cần kiên định sẽ giúp chúng ta tự tin hơn khi đối mặt với những cơn khóc của con. Thay vì day dứt "không biết nên làm gì", giờ chúng ta có cách để quyết định đúng đắn hơn.My dear friend, knowing when your child needs comfort and when they need you to hold firm will make you far more confident when you are facing their crying. Instead of agonising over “I don't know what to do”, we now have a way to decide better.

À, mình cũng có một điều nhắc nhở thân thiện tới những ba mẹ mà hay chiều con quá ấy, rằng bạn hãy thay đổi thói quen của mình nhé. Buông lơi trong việc rèn giũa con, thì khi con lớn hơn lên, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn để quản con đấy. Con cần tình yêu thương ấm áp, nhưng cũng cần biết đúng biết sai. Đó là việc khó của làm cha mẹ, nhưng mình tin. Bạn hiểu ý của mình và sẽ làm được phải không nào.And a friendly reminder for those parents who tend to give in too easily: do change that habit. If you let the shaping of your child slide, you will find them much harder to manage as they grow. Your child needs warm love, but they also need to know right from wrong. That is the hard part of being a parent, but I have faith. You understand what I mean, and you will manage it, won't you.

Bài tiếp theo mình sẽ chia sẻ về chủ đề: "Cha mẹ bình tĩnh, con mới bình tĩnh" - cách giữ vững cảm xúc khi nuôi dạy con.In the next article I will write about “When parents stay calm, the child can stay calm” — how to keep your own emotions steady while raising a child.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 5 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 5 of 9

Cha mẹ ổn định, con mới ổn địnhWhen parents stay calm, the child can stay calm

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Sau khi đã hiểu về não bộ đặc biệt của con, biết khi nào con sẵn sàng học, nhận ra thông điệp qua hành vi và phân biệt lúc nào cần an ủi hay kiên định - giờ đây chúng ta cần quay về với chính mình. Bởi vì có một sự thật mà nhiều cha mẹ chưa nhận ra: Con không thể tự ổn định nếu cha mẹ chưa ổn định.Now that you understand your child's neurodivergent brain, know when your child is ready to learn, can recognise the message inside a behaviour and can tell when to comfort and when to hold firm, it is time to turn back to ourselves. Because there is something many parents have not yet realised: a child cannot settle if their parent has not settled.

Bạn có từng thắc mắc tại sao khi mình căng thẳng thì con cũng bồn chồn? Tại sao mình càng lo lắng thì con càng có nhiều hành vi khó hiểu? Đó không phải trùng hợp. Đó chính là khoa học về sự đồng điều chỉnh - một khái niệm quan trọng mà mọi cha mẹ cần hiểu.Have you ever wondered why your child becomes restless whenever you are tense? Why the more you worry, the more puzzling behaviour you see? That is not a coincidence. That is the science of co-regulation — an idea every parent needs to understand.

Khoa học về đồng điều chỉnhThe science of co-regulation

Hệ thần kinh của con như một chiếc radio luôn "lắng nghe" tần số cảm xúc của cha mẹ. Khi cha mẹ căng thẳng, cơ thể tiết ra hormone stress, giọng nói thay đổi, cử chỉ cứng nhắc hơn. Con cảm nhận được tất cả những tín hiệu này và hệ thần kinh của con cũng chuyển sang trạng thái báo động.Your child's nervous system is like a radio, always tuned to your emotional frequency. When you are tense, your body releases stress hormones, your voice changes, your movements become stiffer. Your child picks up every one of these signals, and their nervous system shifts into alarm too.

Ví dụ thực tế: Sáng nay bạn tỉnh dậy muộn, lo sẽ trễ giờ làm. Trong lúc vội vã chuẩn bị, con không chịu mặc quần áo. Bạn bắt đầu nóng ruột: "Nhanh lên! Mẹ trễ giờ rồi!" Giọng nói căng thẳng, cử chỉ vội vã. Con cảm nhận được sự căng thẳng này và... càng không hợp tác. Tại sao? Bởi vì khi hệ thần kinh con ở trạng thái báo động, con không thể tiếp cận được phần não chịu trách nhiệm về hợp tác và lý luận.A real example: this morning you woke late and you are worried about being late for work. While you are rushing to get ready, your child refuses to get dressed. You start to feel the pressure: “Hurry up! I'm going to be late!” Your voice is tight, your movements are hurried. Your child feels that tension and… becomes even less cooperative. Why? Because when a child's nervous system is on alert, they cannot reach the part of the brain responsible for cooperating and reasoning.

Điều kỳ diệu là: Quá trình này cũng có thể diễn ra theo chiều ngược lại. Khi cha mẹ ổn định, con sẽ "mượn" sự ổn định đó để tự điều chỉnh. Đây chính là nền tảng để con sau này phát triển khả năng tự điều chỉnh cảm xúc.Here is the remarkable part: the process also works the other way round. When you are settled, your child will “borrow” that steadiness in order to regulate themselves. This is the foundation on which your child will later build their own self-regulation.

Nhận biết tác nhân gây căng thẳng của chính mìnhRecognising your own stress triggers

Để có thể ổn định, trước tiên chúng ta cần nhận ra những gì khiến mình mất cân bằng. Tác nhân gây căng thẳng của mỗi người đều khác nhau, nhưng thường rơi vào các nhóm sau:To be able to stay steady, we first need to recognise what throws us off balance. Everyone's stress triggers are different, but they usually fall into these groups:

Tác nhân gây căng thẳng về thể chất:Physical triggers:

  • Thiếu ngủ (ngủ dưới 6 tiếng/đêm)not enough sleep (under six hours a night)
  • Đói hoặc quên ănbeing hungry, or forgetting to eat
  • Mệt mỏi tích tụtiredness that has built up over time
  • Không có thời gian vận độngno time to move your body

Tác nhân gây căng thẳng về tình huống:Situational triggers:

  • Trễ giờ hoặc bị thúc ép về thời gianrunning late, or being under time pressure
  • Áp lực công việc tích tụwork pressure piling up
  • Con không nghe lời khi đang vộiyour child not listening when you are in a hurry
  • Bị người khác phán xét cách nuôi dạy conother people judging the way you raise your child

Tác nhân gây căng thẳng về cảm xúc:Emotional triggers:

  • Cảm giác bất lực khi con có hành vi khó hiểufeeling helpless when your child's behaviour is hard to understand
  • Tự trách mình "tại sao tôi không đủ tốt"blaming yourself — “why am I not good enough?”
  • Sợ bị người khác nghĩ mình là cha mẹ tệfearing that other people think you are a bad parent
  • So sánh con mình với con nhà người tacomparing your child with other people's children

Bài tập thực hành: Trong 1 tuần tới, hãy ghi chú lại những lúc bạn cảm thấy khó kiểm soát. Tác nhân gây căng thẳng nào xuất hiện? Cơ thể bạn có biểu hiện gì? Điều này sẽ giúp bạn nhận ra quy luật của riêng mình.A practical exercise: over the coming week, make a note of the moments when you find yourself hard to control. Which trigger appeared? What did your body do? This will help you see your own pattern.

Kỹ thuật điều chỉnh nhanh 30 giâyA 30-second technique for settling quickly

Khi nhận ra mình đang ở trạng thái căng thẳng, đây là cách để nhanh chóng trở về trạng thái ổn định:When you notice that you are tense, this is how to come back to a settled state quickly:

S.T.O.P - Kỹ thuật 30 giây:S.T.O.P — the 30-second technique:

STOP (Dừng lại): Ngừng mọi hành động đang làm. Không phản ứng ngay lập tức với tình huống.STOP: stop whatever you are doing. Do not react to the situation straight away.

TAKE A BREATH (Hít thở sâu): Hít vào từ từ qua mũi trong 4 giây, giữ 2 giây, thở ra qua miệng trong 6 giây. Lặp lại 3 lần.TAKE A BREATH: breathe in slowly through your nose for four seconds, hold for two, breathe out through your mouth for six. Repeat three times.

OBSERVE (Quan sát): Quan sát con một cách bình tĩnh và khách quan. Con đang cần gì từ mình ngay bây giờ?OBSERVE: look at your child calmly and objectively. What does my child need from me right now?

PAUSE & PROCEED (Tạm dừng và hành động): Tự hỏi: "Phản ứng như thế nào sẽ giúp ích cho cả hai?" Rồi mới hành động.PAUSE & PROCEED: ask yourself, “which response would help us both?” Then act.

Ví dụ áp dụng: Con làm đổ nước lên sàn nhà mới lau.An example of it in use: your child spills water on a floor you have just mopped.

Phản ứng từ trạng thái căng thẳng: "Trời ơi! Sao con cẩu thả thế! Mẹ vừa lau xong mà! Dọn ngay!" → Con sẽ sợ hãi, có thể khóc hoặc càng cứng đầu hơn.The response from a tense state: “Oh no! Why are you so careless! I've only just mopped that! Clean it up now!” → Your child will be frightened, and may cry or dig their heels in even harder.

Phản ứng từ trạng thái ổn định: [STOP - hít thở sâu] "Ôi, nước đổ rồi. Không sao đâu con. Con có cần mẹ giúp dọn không?" → Con học được cách xử lý lỗi một cách bình tĩnh và được hỗ trợ.The response from a settled state: [STOP — take a breath] “Oh, the water's spilt. Never mind, love. Would you like me to help you clean it up?” → Your child learns how to handle a mistake calmly, and learns that help is there.

Xây dựng thói quen ổn định hàng ngàyBuilding daily habits that keep you steady

Việc điều chỉnh nhanh trong 30 giây rất hữu ích, nhưng để bền vững, chúng ta cần xây dựng thói quen giúp bản thân ổn định từ đầu ngày:Settling yourself in 30 seconds is very useful, but to make it last we need habits that keep us steady from the start of the day:

Thói quen buổi sáng (5 phút): Trước khi dậy khỏi giường, nằm yên 5 phút. Hít thở sâu và đặt mục tiêu cho ngày mới: "Hôm nay tôi sẽ là mẹ bình tĩnh và hiện diện mà con cần."A morning habit (five minutes): before you get out of bed, lie still for five minutes. Breathe deeply and set an intention for the day: “today I will be the calm, present mother my child needs.”

Kiểm tra cảm xúc trong ngày: Thỉnh thoảng, hỏi bản thân: "Bây giờ mình đang cảm thấy thế nào? Cần gì để ổn định hơn?" Có thể là uống một cốc nước, đi ra ban công hít thở, hoặc chỉ đơn giản là thả lỏng vai gáy. Thực ra, điều này nghe có vẻ hơi kì kì, nhưng bạn biết không: đối với người không đối mặt với căng thằng thường xuyên thì có lẽ họ không cần kiểm tra trạng thái của bản thân. Nhưng những cha mẹ có con đặc biệt, việc nhận diện cảm xúc và trạng thái có thể khiến bạn tìm được cách giúp chính mình mỗi ngày.Checking in with yourself during the day: now and then, ask yourself, “how am I feeling right now? What do I need in order to feel steadier?” It might be a glass of water, stepping out onto the balcony for some air, or simply letting your shoulders and neck go loose. This does sound a bit odd, I know — but here is the thing: someone who is not facing stress all the time probably does not need to check their own state. For a parent raising a child with additional needs, naming your feelings and your state is what helps you find a way to look after yourself each day.

Kết thúc ngày tích cực: Trước khi ngủ, nhớ lại 3 khoảnh khắc trong ngày mà bạn đã xử lý tình huống một cách ổn định. Điều này sẽ củng cố khả năng ứng phó tích cực của não bộ cho việc ứng phó tích cực.Ending the day well: before you sleep, think back over three moments in the day when you handled a situation calmly. This strengthens your brain's capacity to cope well.

Khi nào cần hỗ trợ chuyên nghiệpWhen you need professional support

Có những lúc dù cố gắng áp dụng các kỹ thuật trên, chúng ta vẫn cảm thấy quá tải. Đây là những dấu hiệu cho thấy bạn cần tìm kiếm sự hỗ trợ:There are times when, however hard we try to use these techniques, we still feel overwhelmed. These are the signs that you need to look for support:

  • Thường xuyên khó kiểm soát cảm xúc với con (hơn 3-4 lần/tuần)often struggling to keep your emotions in check with your child (more than three or four times a week)
  • Cảm thấy tuyệt vọng hoặc trống rỗng kéo dàifeeling hopeless or empty for a long stretch
  • Mất ngủ hoặc ăn uống không đều do căng thẳngsleeping badly, or eating irregularly, because of stress
  • Cảm giác cô lập, không ai hiểu được tình huống của mìnhfeeling isolated, as though nobody understands your situation

Bạn hãy tin rằng, tìm kiếm hỗ trợ không phải là dấu hiệu thiếu mạnh mẽ. Đó là dấu hiệu của một cha mẹ thông minh, biết rằng để chăm sóc con tốt nhất, mình cũng cần được chăm sóc.Please believe this: looking for support is not a sign that you are not strong enough. It is the sign of a wise parent, one who knows that in order to care for their child well, they need to be cared for too.

Cuối cùng, thông điệp của mình là: Con cần cha mẹ đủ ổn định để có thể là "chắn sóng" trong những cơn bão cảm xúc của cuộc sống. Khi chúng ta học cách điều chỉnh bản thân, chúng ta đang dạy con kỹ năng quý giá nhất - khả năng tự chủ cảm xúc.In the end, what I want to say is this: your child needs you steady enough to be the breakwater in the emotional storms of life. When we learn to regulate ourselves, we are teaching our child the most valuable skill of all — the ability to hold their own emotions.

Bài tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá cách dạy con những kỹ năng điều chỉnh cảm xúc thông qua việc làm mẫu. Bởi vì con học từ những gì chúng ta làm, nhiều hơn những gì chúng ta nói.In the next article we will look at how to teach your child the skills of regulating emotion by modelling them. Because children learn from what we do far more than from what we say.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 6 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 6 of 9

Đồng điều chỉnh: cùng con vượt qua cơn bão cảm xúcCo-regulation: riding out the emotional storm with your child

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Trong bài 5, chúng ta đã học cách giữ cho bản thân ổn định. Nhưng có một câu hỏi mà rất nhiều cha mẹ đặt ra: "Tại sao tôi đã bình tĩnh rồi, nhưng con vẫn không thể bình tĩnh?"In article 5 we looked at how to keep yourself steady. But there is a question a great many parents ask: “I have stayed calm, so why can my child still not calm down?”

Nếu bạn đang có câu hỏi này, hãy biết rằng bạn không hề làm sai gì cả. Đôi khi, những phản ứng tự nhiên nhất của chúng ta - những phản ứng xuất phát từ tình yêu thương - lại không đem lại kết quả mong muốn. Điều này không có nghĩa là chúng ta tệ. Điều này có nghĩa là não bộ của trẻ hoạt động khác với những gì chúng ta tưởng tượng.If this is your question, know that you have not done anything wrong. Sometimes our most natural responses — the ones that come straight out of love — do not give us the result we hoped for. That does not mean we are bad at this. It means a child's brain works differently from the way we imagine it does.

Những phản ứng tự nhiên mà đôi khi chưa hiệu quảNatural responses that do not always work

Hãy cùng mình nhìn vào những phản ứng mà hầu hết cha mẹ đều có khi con gặp khó khăn về cảm xúc:Let us look together at the responses almost every parent has when their child is struggling with emotion:

Muốn con bình tĩnh ngay lập tức: "Thôi đừng khóc nữa. Không có gì đâu mà!" "Bình tĩnh lại đi con!"Wanting your child to calm down straight away: “Stop crying now. It is nothing!” “Calm down!”

Khi thấy con khổ sở, bản năng của chúng ta là muốn "tắt" cảm xúc đó càng nhanh càng tốt. Nhưng não bộ của trẻ cần thời gian để xử lý cảm xúc mạnh.When we see our child in distress, our instinct is to “switch off” that feeling as fast as we can. But a child's brain needs time to process a strong emotion.

Nói quá nhiều khi con đang quá tải: "Con khóc vì sao? Con nói cho mẹ nghe đi. Mẹ sẽ giải quyết cho con. Không sao đâu. Lần sau con nhớ là..."Talking too much while your child is overloaded: “Why are you crying? Tell me. I will sort it out for you. It is all right. Next time, remember to…”

Khi con đang trong cơn bão cảm xúc, phần não chịu trách nhiệm về ngôn ngữ và lý luận gần như "tắt" hoàn toàn. Lời nói lúc này chỉ trở thành thêm tiếng ồn.When your child is in the middle of an emotional storm, the part of the brain responsible for language and reasoning is almost entirely “switched off”. Words at that moment become nothing but more noise.

Đòi hỏi kết nối khi con chưa sẵn sàng: "Nhìn mẹ đi con. Ôm mẹ đi. Nói cho mẹ nghe con cảm thấy thế nào."Asking for connection before your child is ready: “Look at me. Give me a hug. Tell me how you are feeling.”

Một số trẻ cần không gian để tự điều chỉnh trước khi có thể kết nối với người khác. Việc đòi hỏi sự gần gũi có thể khiến con thêm căng thẳng.Some children need space to regulate themselves before they can connect with anyone else. Asking for closeness can make your child more tense still.

Hiểu nhầm hành vi của con: "Con cố tình làm khó mẹ!" "Con không nghe lời!"Misreading your child's behaviour: “You are doing this on purpose to make things hard for me!” “You never listen!”

Khi con đang quá tải cảm xúc, con không thể "nghe lời" dù có muốn. Đây là vấn đề về khả năng não bộ, không phải về thái độ.When your child is overloaded with emotion, they cannot “listen” even if they want to. This is a question of what the brain is able to do, not of attitude.

Thay đổi cách tiếp cận giữa chừng: Một lúc dỗ dành, một lúc kiên quyết, một lúc lại thử đánh lạc hướng sự chú ý của con. Việc thay đổi liên tục khiến con thêm bối rối khi đã đang khó khăn.Changing your approach halfway through: soothing one moment, firm the next, then trying to distract your child. Switching from one thing to another leaves your child more confused at a point when things are already hard.

Lưu ý đặc biệt với các bạn có nhu cầu đặc biệtA particular note for children with additional needs

Với những bạn nhỏ đặc biệt như trẻ tự kỷ, ngoài những điểm ở trên, cha mẹ cần cân nhắc thêm đến đặc điểm về giác quan của con. Giác quan của con là cách con cảm nhận thế giới, đôi khi rất khác với cách chúng ta cảm nhận.With a child with additional needs, an autistic child for example, parents need to think about their child's sensory profile as well as everything above. Your child's senses are how your child feels the world, and sometimes that is very different from how we feel it.

Có những điều người xung quanh thấy bình thường, nhưng con lại cảm thấy rất khó chịu. Ví dụ, những bạn nhạy cảm với âm thanh sẽ dễ khóc hoặc bỏ trốn khỏi siêu thị vì tiếng loa phát thanh, tiếng xe đẩy kêu cọt kẹt. Những bạn nhạy cảm với sự thay đổi sẽ có phản ứng cảm xúc mạnh chỉ vì hôm nay đi đường khác về nhà, hoặc bữa tối có món mới.There are things everyone around them finds ordinary that your child finds deeply uncomfortable. A child who is sensitive to sound, for instance, will easily cry or run out of the supermarket because of the loudspeaker announcements and the squeak of the trolleys. A child who is sensitive to change will have a strong emotional reaction simply because you came home a different way today, or because there is a new dish at dinner.

Khi con có những phản ứng này, việc đầu tiên không phải là hỗ trợ cảm xúc, mà là giải quyết vấn đề giác quan trước. Ra khỏi môi trường ồn ào, trở về thói quen quen thuộc, hoặc giảm bớt các tác nhân gây khó chịu.When your child reacts like this, the first thing to do is not emotional support but sorting out the sensory problem first. Get out of the noisy environment, come back to the familiar routine, or take away whatever is causing the discomfort.

Hiểu được đặc điểm giác quan của con sẽ giúp cha mẹ hỗ trợ hiệu quả hơn rất nhiều. Chúng ta sẽ khám phá chi tiết hơn về điều này trong bài tiếp theo.Understanding your child's sensory profile makes it far easier to support them well. We will look at this in more detail in the next article.

Xây dựng kết nối qua những khoảnh khắc khó khănBuilding connection through the hard moments

Niềm tin được tích lũy từng chút một: Mỗi lần con gặp khó khăn và cảm thấy được hỗ trợ mà không bị phán xét, con sẽ tin tưởng cha mẹ hơn một chút. Những khoảnh khắc này quan trọng hơn chúng ta tưởng.Trust is built up little by little: every time your child struggles and feels supported rather than judged, your child trusts you a little more. These moments matter more than we realise.

Ví dụ thực tế: Con 5 tuổi khóc vì bạn không chơi cùng ở trường. Thay vì: "Thôi, có nhiều bạn khác mà! Đừng buồn nữa!" Thử: "Con đang buồn vì bạn An không chơi cùng. Được mẹ ôm không?"A real example: a five-year-old cries because a friend would not play with him at school. Instead of: “Come on, there are plenty of other children! Stop being sad!” Try: “You are sad because An would not play with you. Would you like a hug?”

Tạo cảm giác an toàn cảm xúc: Khi con biết rằng mọi cảm xúc đều được chấp nhận và không có cảm xúc nào bị coi là "xấu", con sẽ thoải mái chia sẻ với cha mẹ hơn.Creating emotional safety: when your child knows that every feeling is accepted and that no feeling is treated as “bad”, your child will share things with you more easily.

"Tức giận là bình thường con à. Mọi người đều có lúc tức giận." "Con cảm thấy thế nào cũng được. Mẹ sẽ ở bên con."“Being angry is normal, my love. Everybody feels angry sometimes.” “However you feel is all right. I am here with you.”

Dạy con rằng cảm xúc sẽ qua đi: Thay vì cố gắng "chữa" cảm xúc ngay lập tức, hãy giúp con trải nghiệm việc cảm xúc tự nhiên nhẹ đi theo thời gian.Teaching your child that feelings pass: instead of trying to “cure” a feeling straight away, help your child experience how a feeling naturally eases with time.

"Cảm xúc này rất mạnh nhỉ. Chúng ta cùng chờ xem nó sẽ nhẹ dần như thế nào."“That is a very big feeling, isn't it. Let us wait together and see how it gets lighter.”

Tăng cường mối quan hệ cha mẹ - con: Những lúc con khó khăn nhất chính là cơ hội để thể hiện tình yêu vô điều kiện. "Dù con như thế nào, mẹ/bố vẫn yêu con và sẽ ở bên con."Strengthening the bond between parent and child: the times when your child is struggling most are exactly the chance to show unconditional love. “Whatever you are like, I still love you and I will be here with you.”

Thực hành xây dựng kết nối hàng ngàyDaily practice for building connection

10 phút tập trung hoàn toàn cho con mỗi ngày: Không có điện thoại, không có việc nhà. Chỉ có bạn và con. Làm những gì con muốn làm, theo nhịp độ của con. Đây chính là "vốn" cho những lúc khó khăn.Ten minutes of complete attention for your child every day: no phone, no housework. Just you and your child. Do what your child wants to do, at your child's pace. This is the “capital” you draw on when things are hard.

Nhận biết và hỗ trợ từ sớm: Học cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu khi con bắt đầu căng thẳng. Hỗ trợ sớm luôn dễ dàng hơn "cứu hỏa" khi con đã meltdown hoàn toàn.Noticing and supporting early: learn to recognise the first signs that your child is becoming tense. Supporting early is always easier than “putting out the fire” once your child is in a full meltdown.

"Mẹ thấy con đang bắt đầu mệt. Con có muốn nghỉ một chút không?"“I can see you are starting to get tired. Would you like a little break?”

Ghi nhận những lần con chấp nhận giúp đỡ: "Hôm nay con đã để mẹ ôm khi con buồn. Cảm ơn con đã tin tưởng mẹ.""Con đã thử hít thở sâu như mẹ dạy. Mẹ thấy con rất cố gắng."Acknowledging the times your child accepts help: “Today you let me hug you when you were sad. Thank you for trusting me.” “You tried the deep breathing I taught you. I could see how hard you were trying.”

Việc ghi nhận này giúp con hiểu rằng việc nhận hỗ trợ là điều tích cực, không phải dấu hiệu yếu đuối.Acknowledging it this way helps your child understand that accepting support is a positive thing, not a sign of weakness.

Tự đánh giá và điều chỉnh cách tiếp cận: Cuối ngày, dành vài phút tự hỏi:Reviewing and adjusting your own approach: at the end of the day, take a few minutes to ask yourself:

  • Hôm nay tôi đã hiện diện với con như thế nào?How present was I with my child today?
  • Những lúc nào con cảm thấy được hỗ trợ nhất?When did my child feel most supported?
  • Điều gì tôi có thể làm khác đi ngày mai?What could I do differently tomorrow?

Bạn hãy nhớ rằng: Việc xây dựng kết nối cảm xúc với con là một quá trình dài. Có những ngày bạn sẽ làm rất tốt, có những ngày bạn sẽ cảm thấy như mình đang “s”ai. Đó là điều hoàn toàn bình thường.Please remember: building an emotional connection with your child is a long process. There will be days when you do it very well, and days when you feel as though you are getting it wrong. That is completely normal.

Mỗi khoảnh khắc khó khăn mà bạn và con cùng vượt qua, cả hai đều trở nên mạnh mẽ hơn. Khi con cảm thấy được hiểu và được hỗ trợ, con sẽ từ từ học cách tự điều chỉnh cảm xúc - và đó chính là những gì chúng ta sẽ khám phá ở bài tiếp theo.Every hard moment you and your child come through together leaves you both stronger. When your child feels understood and supported, your child will slowly learn to regulate their own emotions — and that is exactly what we will explore in the next article.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 7 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 7 of 9

Khoa học về dạy con tự điều chỉnh cảm xúcThe science of teaching your child to self-regulate

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Trong bài trước, chúng ta đã học cách hỗ trợ con qua những khoảnh khắc khó khăn thông qua đồng điều chỉnh. Nhưng có một câu hỏi mà nhiều cha mẹ đặt ra: "Bao giờ con mới có thể tự xử lý được cảm xúc mà không cần mẹ/bố?"In the previous article we looked at how to support your child through a hard moment by co-regulating with them. But there is a question many parents ask: “When will my child be able to handle their feelings on their own, without mum or dad?”

Đây là một mong muốn hoàn toàn tự nhiên. Chúng ta muốn con trở thành những người độc lập, có thể đối mặt với thăng trầm của cuộc sống. Nhưng để đạt được điều đó, chúng ta cần hiểu về khoa học đằng sau quá trình học cách tự điều chỉnh cảm xúc.That wish is entirely natural. We want our children to become independent people who can meet the ups and downs of life. To get there, though, we need to understand the science behind how a child learns to self-regulate.

Tại sao con chưa thể tự điều chỉnhWhy your child cannot self-regulate yet

Não bộ chưa trưởng thành: Vùng não trước trán - là một trong những vùng cuối cùng trưởng thành, tiếp tục phát triển đến giữa tuổi 20. Mỗi con có tốc độ phát triển khác nhau. Điều này có nghĩa là ngay cả thanh thiếu niên đôi khi vẫn gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc, chưa nói gì đến trẻ nhỏ.The brain is not mature yet: the prefrontal cortex is one of the last areas to mature, and it goes on developing into the mid-twenties. Every child develops at their own pace. This means that even teenagers sometimes struggle to manage their emotions, let alone young children.

Hãy tưởng tượng não bộ của con như một ngôi nhà đang xây dựng. Tầng trệt (cảm xúc cơ bản) đã hoàn thành, nhưng tầng trên (kiểm soát cảm xúc) vẫn đang trong quá trình thi công. Chúng ta không thể yêu cầu con sử dụng một căn phòng chưa được xây xong.Picture your child's brain as a house under construction. The ground floor (basic emotions) is finished, but the upper floor (managing those emotions) is still being built. We cannot ask a child to use a room that is not finished yet.

Con cần học từ người lớn: Khác với việc học đi hay nói, khả năng điều chỉnh cảm xúc không phải là kỹ năng tự nhiên. Con cần được dạy cách làm. Và người thầy tốt nhất chính là cha mẹ - những người con quan sát mỗi ngày.Your child needs to learn it from adults: unlike learning to walk or to talk, regulating emotions is not a skill that arrives on its own. Your child has to be taught how. And the best teachers are the parents your child watches every day.

Ví dụ thực tế: Khi con thấy mẹ tức giận vì kẹt xe nhưng hít thở sâu và nói "Mẹ cần bình tĩnh lại", con đang học được một bài học vô giá về cách xử lý cảm xúc khó chịu.A real example: when your child sees you angry in a traffic jam but taking a deep breath and saying “I need to calm down”, they are learning a priceless lesson in how to handle an uncomfortable feeling.

Con học cách điều chỉnh cảm xúc nhu thế nàoHow your child learns to regulate emotions

Quan sát và bắt chước: Não bộ của trẻ có những tế bào thần kinh đặc biệt gọi là "tế bào gương". Những tế bào này kích hoạt cả khi con thực hiện một hành động và khi con quan sát người khác thực hiện hành động đó. Đây chính là lý do tại sao con thường sao chép cách cư xử của cha mẹ, dù chúng ta không cố ý dạy.Watching and copying: a child's brain has particular nerve cells called “mirror neurons”. These cells fire both when your child does something and when your child watches someone else do it. This is why children so often copy the way their parents behave, even when we are not deliberately teaching them anything.

Lặp đi lặp lại: Một lần thấy mẹ hít thở sâu thôi là chưa đủ. Con cần thấy cha mẹ áp dụng cùng một phương pháp hàng trăm lần trong các tình huống khác nhau để nó trở thành kỹ năng trong não bộ của con.Repetition: seeing you take a deep breath once is not enough. Your child needs to see you use the same method hundreds of times, in all sorts of situations, before it becomes a skill in their brain.

Cảm xúc lây lan: Khoa học đã chứng minh rằng cảm xúc có thể "lây" từ người này sang người khác, đặc biệt là từ cha mẹ sang con. Khi chúng ta bình tĩnh, con cũng dễ bình tĩnh hơn. Khi chúng ta lo lắng, con cũng cảm nhận được sự lo lắng đó.Emotions are contagious: science has shown that feelings can “catch” from one person to another, and especially from parent to child. When we are calm, our children find it easier to be calm. When we are anxious, they feel that anxiety too.

Từ bên ngoài vào bên trong: Ban đầu, con chỉ có thể bình tĩnh khi cha mẹ ở bên cạnh (điều chỉnh từ bên ngoài). Dần dần, những gì con quan sát được sẽ trở thành kỹ năng nội tại (tự điều chỉnh từ bên trong).From the outside in: at first, your child can only settle when you are there beside them (regulation from the outside). Gradually, what your child has watched becomes an internal skill (self-regulation from the inside).

3 Nguyên tắc vàng khi dạy conThree golden rules for teaching your child

Nói ra → Thực hiện → Thực hành cùng: Đầu tiên, nói ra những gì mình đang làm: "Mẹ đang tức giận, mẹ sẽ hít thở sâu". Tiếp theo, thực sự làm hành động đó để con thấy. Cuối cùng, mời con thực hành cùng: "Con có muốn hít thở cùng mẹ không?"Say it → Do it → Practise it together: first, say out loud what you are doing: “I am angry, so I am going to take a deep breath.” Next, actually do it, where your child can see. Finally, invite your child to join in: “Would you like to breathe with me?”

Kết nối trước, sửa chữa sau: Trước khi dạy con bất cứ kỹ năng gì, hãy đảm bảo con cảm thấy được hiểu và được yêu thương. Con sẽ không thể học khi đang cảm thấy bị phán xét hoặc cô lập.Connect first, correct afterwards: before you teach your child any skill at all, make sure they feel understood and loved. A child cannot learn while they feel judged or shut out.

Nhất quán quan trọng hơn hoàn hảo: Thà cha mẹ áp dụng cùng một phương pháp đơn giản một cách nhất quán, còn hơn là thử nhiều phương pháp phức tạp nhưng không kiên trì. Con cần sự dự đoán được để học.Consistency matters more than perfection: it is better to use one simple method consistently than to try many complicated ones and give up on each. Your child needs to be able to predict what happens in order to learn.

Lưu ý đặc biệt với trẻ có nhu cầu đặc biệtA particular note for children with additional needs

Với những bạn có nhu cầu đặc biệt, việc làm mẫu vẫn rất hiệu quả nhưng cần sự kiên trì và điều chỉnh phù hợp.For a child with additional needs, modelling still works very well, but it takes patience and the right adjustments.

Trẻ tự kỷ: Do khó khăn trong việc đọc hiểu cảm xúc và biểu cảm, các bạn này cần thấy hành động rõ ràng và cường độ cao hơn. Thay vì chỉ nói "Mẹ hít thở sâu", cần thể hiện một cách rất rõ ràng: hít vào sâu và rõ ràng, thở ra chậm, có thể kết hợp với cử chỉ tay. Quá trình học có thể mất từ nhiều tháng đến vài năm, nhưng một khi đã thành thói quen, con sẽ áp dụng rất nhất quán.Autistic children: because reading emotions and facial expressions is difficult for them, these children need to see the action clearly and more strongly. Rather than only saying “I am taking a deep breath”, show it unmistakably: breathe in deeply and visibly, breathe out slowly, and add a hand gesture if that helps. The learning can take anywhere from several months to a few years, but once it has become a habit, your child will use it very consistently.

Trẻ tăng động giảm chú ý: Các bạn này học tốt nhất qua hành động và chuyển động. Thay vì chỉ ngồi hít thở, có thể kết hợp với động tác nhảy tại chỗ hoặc nắm chặt nắm tay. Cần lặp lại rất nhiều lần vì khả năng tập trung ngắn, nhưng một khi học được, con sẽ áp dụng một cách tự nhiên vào cuộc sống.Children with ADHD: these children learn best through action and movement. Instead of sitting still to breathe, you can combine it with jumping on the spot or clenching the fists. It needs a great many repetitions, because their attention span is short, but once they have learned it, they will bring it into daily life quite naturally.

Trẻ chậm ngôn ngữ: Không dựa vào lời nói để dạy mà tập trung hoàn toàn vào hành động và cử chỉ. Con có thể không nói được "Mẹ đang tức giận" nhưng con vẫn có thể học cách hít thở sâu, ôm gối, hoặc đi đến góc yên tĩnh. Tín hiệu hình ảnh và thói quen sẽ rất quan trọng.Children with a language delay: do not rely on words to teach this — put all the emphasis on actions and gestures. Your child may not be able to say “I am angry”, but your child can still learn to take a deep breath, hug a cushion, or go to the quiet corner. Visual cues and routine matter a great deal here.

Điểm chung: Tất cả các nhóm trẻ này đều cần thời gian dài hơn và sự lặp lại nhiều hơn. Nhưng khi đã học được, họ thường áp dụng kỹ năng một cách rất hiệu quả và bền vững.What they have in common: all of these children need more time and more repetition. But once they have learned the skill, they tend to use it very effectively and to hold on to it.

Kỳ vọng thực tế về thời gianRealistic expectations about timing

2-3 tuổi: Con có thể học những cách đơn giản như hít thở cùng người lớn, ôm đồ chơi khi buồn.2–3 years old: your child can learn simple things like breathing along with an adult, or holding a toy when they are sad.

4-6 tuổi: Con có thể áp dụng các kỹ thuật với sự nhắc nhở và hướng dẫn. Ví dụ: "Con có nhớ cách thổi nến sinh nhật không?" khi con cần bình tĩnh.4–6 years old: your child can use the techniques with reminders and guidance. For example: “Do you remember how you blow out birthday candles?” when they need to calm down.

7-10 tuổi: Con bắt đầu có thể tự nhận biết cảm xúc và áp dụng một số kỹ thuật mà không cần nhắc nhở trong những tình huống quen thuộc.7–10 years old: your child begins to recognise their own feelings and to use some of the techniques without reminders, in familiar situations.

11+ tuổi: Con phát triển khả năng suy nghĩ về cảm xúc của mình và áp dụng các chiến lược phức tạp hơn.11 years and older: your child develops the ability to think about their own feelings and to use more complex strategies.

Lưu ý quan trọng: Đây chỉ là khung thời gian tham khảo. Mỗi con phát triển theo nhịp độ riêng, và có những ngày con sẽ "lùi" về những giai đoạn trước đó. Điều này hoàn toàn bình thường.One important note: this is only a rough guide. Every child develops at their own pace, and there will be days when your child “slips back” to an earlier stage. That is completely normal.

Bạn hãy nhớ rằng: Việc dạy con tự điều chỉnh cảm xúc không phải một cuộc đua tốc độ. Đó là một khoản đầu tư dài hạn cho tương lai của con. Mỗi lần con thấy cha mẹ xử lý cảm xúc một cách tích cực, con đang học được một kỹ năng sống quý giá.Please remember: teaching your child to self-regulate is not a race. It is a long-term investment in your child's future. Every time your child watches you handle a feeling well, they are learning a valuable life skill.

Hiểu được khoa học đằng sau quá trình này sẽ giúp chúng ta kiên nhẫn hơn và có những kỳ vọng thực tế hơn. Bài tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá những công cụ cụ thể và cách thực hành trong cuộc sống hàng ngày.Understanding the science behind all this helps us be more patient and hold more realistic expectations. In the next article we will look at the specific tools and at how to practise them in everyday life.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 8 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 8 of 9

Công cụ và thực hành dạy con tự điều chỉnhTools and practice for teaching your child self-regulation

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Trong bài trước, chúng ta đã hiểu được khoa học về cách con học điều chỉnh cảm xúc thông qua việc quan sát và bắt chước cha mẹ. Nhưng mình biết câu hỏi mà nhiều cha mẹ đặt ra là: "Cụ thể thì tôi cần dạy con những gì? Có những công cụ nào con có thể tự sử dụng được?"In the previous article we looked at the science of how a child learns to regulate their emotions by watching and copying their parents. But I know the question many parents ask is this: “What exactly do I need to teach my child? Which tools can my child use on their own?”

Không có một công thức cố định cho tất cả trẻ em, bởi mỗi con đều có tính cách và cách học riêng. Nhưng có những công cụ đã được kiểm nghiệm qua thời gian và phù hợp với từng độ tuổi. Hãy cùng khám phá những công cụ này và cách áp dụng trong thực tế.There is no fixed formula that works for every child, because each child has their own character and their own way of learning. But there are tools that have proved themselves over time, and that suit particular ages. Let us look at what they are and how to use them in practice.

Công cụ cụ thể theo lứa tuổiTools for each age group

2-4 tuổi - Những viên gạch đầu tiên:Ages 2–4 — the first building blocks:

Hít thở "Thổi hoa bồ công anh": Thay vì chỉ nói "hít thở sâu", hãy nói "Con hít sâu sâu, rồi thổi nhẹ nhẹ để hoa bay đi". Làm mẫu bằng cách thổi thật nhẹ vào tay con.“Blowing a dandelion” breathing: Instead of only saying “take a deep breath”, say “Breathe in deep, deep, then blow very gently so the flower floats away.” Show your child how, by blowing very softly onto their hand.

Ôm chặt và thả lỏng: Dạy con nắm chặt tay thành nắm đấm, rồi thả ra. "Ôm chặt tất cả những cảm xúc khó chịu, rồi thả ra ngoài."Squeeze tight, then let go: Teach your child to squeeze their hands into fists, then open them. “Hold all the uncomfortable feelings tight, then let them go.”

"Cảm xúc sẽ đi": Sử dụng hình ảnh đơn giản: "Buồn sẽ đi như mưa ngừng", "Tức giận sẽ nhẹ như mây trôi".“Feelings pass”: Use simple images: “Sadness goes away the way rain stops”, “Anger drifts off as lightly as a cloud”.

Góc an toàn: Tạo một góc nhỏ với gối ôm và đồ chơi mềm, nơi con có thể đến khi cần bình tĩnh.A safe corner: Make a small corner with cushions and soft toys, a place your child can go to when they need to calm down.

5-8 tuổi - Phát triển kỹ năng:Ages 5–8 — building the skills:

"Nhiệt kế cảm xúc" từ 1-10: Dạy con tự đánh giá: "Con cảm thấy tức giận mức mấy trên thang 10?" Điều này giúp con có ngôn ngữ để mô tả cảm xúc.The “feelings thermometer”, 1 to 10: Teach your child to rate themselves: “How angry do you feel, out of 10?” This gives your child the language to describe what they feel.

Kỹ thuật 5-4-3-2-1: "Con hãy nói cho mẹ 5 thứ con nhìn thấy, 4 thứ con nghe được, 3 thứ con chạm được, 2 thứ con ngửi được, 1 thứ con nếm được." Mình thấy công cụ này giúp con tập trung vào hiện tại rất hiệu quả.The 5-4-3-2-1 technique: “Tell me five things you can see, four things you can hear, three things you can touch, two things you can smell and one thing you can taste.” I find this tool is very good at bringing a child's attention back to the present.

"Tạm dừng như đèn đỏ": Dạy con quy trình: Dừng lại (đèn đỏ) → Hít thở (đèn vàng) → Suy nghĩ → Hành động (đèn xanh).“Pause like a red light”: Teach your child the sequence: Stop (red light) → Breathe (amber light) → Think → Act (green light).

Nhật ký cảm xúc: Mỗi tối, con vẽ hoặc viết về cảm xúc trong ngày. Bạn đừng làm phức tạp nhé, chỉ cần biểu tượng cảm xúc và một câu ngắn là đủ.A feelings diary: Every evening, your child draws or writes about the feelings of the day. Do not make it complicated — an emoji and one short sentence is enough.

9+ tuổi - Chiến lược nâng cao:Ages 9 and up — more advanced strategies:

Các bước giải quyết vấn đề: Xác định vấn đề → Nghĩ các lựa chọn → Cân nhắc hậu quả → Chọn phương án tốt nhất.The problem-solving steps: Name the problem → Think of the options → Weigh up the consequences → Choose the best one.

Thay đổi góc nhìn: "Nếu bạn thân của con gặp tình huống này, con sẽ khuyên bạn ấy như thế nào?"Changing the point of view: “If your best friend were in this situation, what would you tell them to do?”

Suy nghĩ dài hạn: "10 phút nữa con sẽ cảm thấy thế nào về việc này? Ngày mai thì sao?"Thinking further ahead: “How will you feel about this in 10 minutes? And tomorrow?”

Tự nói chuyện tích cực: Dạy con thay thế "Tôi làm không được" bằng "Tôi đang học cách làm".Positive self-talk: Teach your child to replace “I can't do it” with “I am learning how to do it”.

Scripts (mẫu câu) và ví dụ thực tếScripts and real-life examples

Tình huống 1: Con 5 tuổi giận dữ vì không được mua kẹo ở siêu thịSituation 1: A 5-year-old is furious about not being allowed sweets at the supermarket

Bước 1 - Thừa nhận cảm xúc: "Mẹ thấy con tức giận vì không mua được kẹo."Step 1 — Acknowledge the feeling: “I can see you are angry because we did not buy the sweets.”

Bước 2 - Làm mẫu: "Khi mẹ tức giận, mẹ thường hít thở sâu để bình tĩnh lại. Con thử cùng mẹ nhé - hít sâu như ngửi hoa, thở ra như thổi bong bóng."Step 2 — Model it: “When I am angry, I usually take a deep breath to calm myself down. Try it with me — breathe in as if you are smelling a flower, breathe out as if you are blowing a bubble.”

Bước 3 - Kết nối: "Giờ chúng ta đã bình tĩnh rồi. Con có muốn kể cho mẹ nghe tại sao con muốn kẹo không?"Step 3 — Connect: “We are calm now. Would you like to tell me why you wanted the sweets?”

Bước 4 - Củng cố: "Tức giận là chuyện bình thường. Con đã làm rất tốt khi hít thở cùng mẹ để bình tĩnh lại."Step 4 — Reinforce: “Being angry is normal. You did really well, breathing with me until you were calm again.”

Tình huống 2: Con 8 tuổi căng thẳng vì bài kiểm tra toánSituation 2: An 8-year-old is anxious about a maths test

Đánh giá tình huống: "Con cảm thấy lo lắng mức mấy trên thang 10?"Take stock of the situation: “How worried do you feel, out of 10?”

Làm mẫu: "Khi bố lo lắng về công việc, bố thường đi bộ quanh nhà 5 phút để đầu óc thoáng hơn."Model it: “When I am worried about work, I usually walk around the house for 5 minutes to clear my head.”

Thực hành cùng nhau: "Chúng ta thử kỹ thuật 5-4-3-2-1 nhé. Con hãy kể 5 thứ con nhìn thấy trong phòng này."Practise together: “Let's try the 5-4-3-2-1 technique. Tell me five things you can see in this room.”

Lập kế hoạch: "Giờ con cảm thấy bình tĩnh hơn rồi. Con muốn làm gì để chuẩn bị tốt cho bài kiểm tra?"Make a plan: “You feel calmer now. What would you like to do to get ready for the test?”

Xây dựng "bộ công cụ cảm xúc" riêng cho conBuilding your child's own “emotional toolkit”

Bước 1: Quan sát con của mìnhStep 1: Observe your own child

Mỗi con đều khác nhau. Bạn nên chú ý:Every child is different. Pay attention to this:

Con phản ứng tốt nhất với loại hỗ trợ nào? Chuyển động, thở, hình ảnh hay âm thanh?Which kind of support does your child respond to best? Movement, breathing, images or sound?

Lúc nào trong ngày con dễ tiếp thu nhất?What time of day is your child most open to learning?

Con thích tự làm hay được hướng dẫn từng bước?Does your child prefer to do it alone, or to be guided step by step?

Ví dụ: Bé Minh 6 tuổi thích chuyển động khi căng thẳng, nên mẹ dạy con "nhảy giải tỏa" 10 lần thay vì chỉ ngồi hít thở. Bé An 7 tuổi lại thích yên tĩnh, nên bố dạy con kỹ thuật đếm ngược từ 20. Mình nghĩ bạn nên quan sát con mình để tìm ra cách phù hợp nhất.For example: Minh, aged 6, likes to move when he is tense, so his mother taught him to “jump it out” ten times instead of just sitting and breathing. An, aged 7, prefers quiet, so his father taught him to count backwards from 20. I think you should watch your own child to work out what suits them best.

Bước 2: Tạo bộ công cụ cá nhân hóaStep 2: Put together a personalised toolkit

Từ những gì quan sát được, bạn hãy tạo cho con:From what you have observed, put together for your child:

2-3 công cụ "chủ lực" mà con có thể làm đượctwo or three “go-to” tools that your child is able to use

1 không gian an toàn hoặc đồ vật an ủione safe space or one comforting object

1-2 câu nói đơn giản cho những tình huống thường gặpone or two simple phrases for the situations that come up most often

"Khi con tức giận, con có thể: hít thở như thổi hoa, ôm gấu bông, hoặc đến góc yên tĩnh. Con muốn thử cái nào trước?"“When you are angry, you can: breathe like blowing a dandelion, hug your teddy, or go to the quiet corner. Which would you like to try first?”

Bước 3: Thực hành trong lúc bình tĩnhStep 3: Practise while things are calm

Mình thấy đây là bước quan trọng nhất mà nhiều cha mẹ bỏ qua. Bạn đừng chỉ dạy khi con đang khó khăn về cảm xúc nhé.I find this is the most important step, and the one many parents skip. Do not teach these things only when your child is already struggling with their feelings.

Mỗi ngày dành 5 phút thực hành khi con vui vẻ: "Chúng ta cùng luyện tập hít thở thổi hoa nhé! Hôm nào con buồn thì con đã biết cách làm rồi."Spend 5 minutes a day practising while your child is happy: “Let's practise our dandelion breathing! Then on a day when you feel sad, you will already know how.”

Mình nghĩ bạn nên biến việc thực hành thành trò chơi: "Con thử xem có thể đếm ngược từ 10 nhanh thế nào không? Đây là 'phép thuật' giúp con bình tĩnh đấy!"I think you should turn the practice into a game: “See how fast you can count backwards from 10! This is the ‘magic’ that helps you calm down.”

Bạn hãy nhớ rằng: Những công cụ này cần thời gian để trở thành thói quen. Đôi khi con sẽ quên áp dụng, đôi khi sẽ từ chối sử dụng - mình thấy điều này hoàn toàn bình thường. Sự kiên nhẫn và nhất quán của cha mẹ chính là chìa khóa để những kỹ năng này trở thành phản xạ tự nhiên của con.Remember this: these tools need time before they become habits. Sometimes your child will forget to use them, sometimes they will refuse — I find that is completely normal. Your patience and consistency as a parent are what turn these skills into something your child reaches for naturally.

Bài tiếp theo, chúng ta sẽ nói về việc chăm sóc bản thân - làm sao để cha mẹ có đủ năng lượng cho hành trình dài này.In the next article we will talk about looking after yourself — how to have enough energy as a parent for this long journey.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Khi nào thì nương, khi nào thì nghiêm · Bài 9 trong 9Series: When to hold your child, and when to hold firm · Part 9 of 9

Mình cũng cần được chăm sócI need looking after too

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Hôm nay mình muốn nói về điều mà rất nhiều cha mẹ hay nói với mình: "Chờ con ổn định rồi, mình sẽ lo cho bản thân sau". Nghe quen không các bạn?Today I want to talk about something a great many parents say to me: “Once my child is settled, I will look after myself.” Does that sound familiar?

Mình hiểu mà. Khi con mình cần nhiều hỗ trợ, việc nghĩ đến bản thân cảm giác như... ích kỷ quá. Lại còn có người nói "làm mẹ phải hy sinh", "con còn khó khăn mà mẹ còn lo cho mình". Nhưng thật ra, hành trình này dài lắm, và nếu mình không chăm sóc bản thân, làm sao có sức để đồng hành cùng con được?I understand. When your child needs so much support, thinking about yourself feels… selfish. And then people say “a mother has to sacrifice”, “your child is still struggling and here you are worrying about yourself”. But the truth is that this journey is a long one, and if you do not look after yourself, where will the strength come from to walk it with your child?

Thực tế của cha mẹ Việt Nam mìnhThe reality for us Vietnamese parents

Mình biết rằng, nhiều gia đình trong số các bạn phải gánh vác rất nhiều: lo con đặc biệt, lo con khác, lo tiền bạc, lo công việc. Có khi còn phải chăm ông bà nữa. Cuối ngày về nhà, chỉ muốn ngã lăn ra giường.I know that many of your families carry a great deal: a child with additional needs, the other children, money, work. Sometimes grandparents to care for as well. At the end of the day you come home and all you want is to fall into bed.

"Đâu có thời gian mà chăm sóc bản thân?". Có bạn còn nói "mình nghỉ ngơi là con sẽ mất cơ hội phát triển". Nhưng bạn ơi, tự chăm sóc bản thân không phải là đi spa hay gym đâu. Với góc nhìn của mình, self-care có thể là những cách rất đơn giản và vẫn hiệu quả.“Where would I find the time to look after myself?” Some of you have even said, “if I rest, my child loses a chance to develop.” But truly, looking after yourself is not about going to a spa or a gym. The way I see it, self-care can be very simple and still work.

Một số mách nhỏ cho các ba mẹ, các bạn thử những cách sau xem sao nhaA few small suggestions for you — have a go at these and see how they feel.

5 phút mỗi ngày: Thay vì nhấp nhanh một cốc nước, hãy ngồi xuống, uống từ từ, cảm nhận vị ấm của nước. Hít thở sâu 3 lần. Vậy thôi.Five minutes a day: instead of gulping down a glass of water, sit down, drink it slowly, feel how warm it is. Take three deep breaths. That is all.

Tận dụng việc nhà: Khi nấu ăn, mở nhạc mình thích. Khi phơi đồ, để ý cảm giác gió thổi. Biến công việc thành khoảnh khắc thư giãn.Make use of the housework: put on music you like while you cook. Notice the wind while you hang out the washing. Turn the chore into a moment of rest.

Khi chờ con đi can thiệp: Thay vì lướt điện thoại, thử ngồi thở sâu, quan sát xung quanh. Con đang an toàn trong phòng, mình có 10 phút cho bản thân.While you wait for your child's intervention session: instead of scrolling on your phone, try sitting and breathing deeply, looking around you. Your child is safe in the room; you have ten minutes for yourself.

Hạ tiêu chuẩn xuống: Nhà bừa một chút không sao đâu. Cơm chiên trứng thay vì nấu nhiều món cũng được. Sức khỏe mình quan trọng hơn nhà cửa hoàn hảo. Ai nói gì thì nói, con khỏe mẹ khỏe mới là điều quan trọng. Nếu hôm nay mệt quá, thì hãy ưu tiên bản thân một chút nhé.Lower the bar: it is fine if the house is a little untidy. Egg fried rice instead of cooking several dishes is fine too. Your health matters more than a perfect home. Whatever anyone says, a well child and a well mother are what matter. If today has worn you out, put yourself first a little.

Tuy nhiên, có một số gia đình sẽ có những hoàn cảnh khác nhau, bạn thử xem những cách ở bên dưới có giúp ích gì cho bạn không nha.That said, families are in different circumstances. Have a look at the suggestions below and see whether any of them help you.

Nếu có ông bà giúp: Nhờ trông con 30 phút để mình đi bộ quanh xóm, hay chỉ nằm yên không làm gì. Bạn đừng lo lắng, hãy nghĩ rằng mẹ nghỉ chút để có sức chăm con tốt hơn. Như một hình thức được sạc lại pin nhanh ấy.If the grandparents can help: ask them to watch your child for 30 minutes so you can walk around the neighbourhood, or simply lie still and do nothing. Do not worry about it — think of it as resting a while so that you have the strength to care for your child better. A quick recharge of the battery.

Chia sẻ công việc với đối tác (chồng/vợ): Nuôi dưỡng một em bé đặc biệt sẽ khó hơn các em nhỏ có sự phát triển ổn định. Bạn nên có trao đổi với đối tác của mình và có sự phân công, chia sẻ trong việc chăm sóc con. Như vậy, cả hai đều cùng gánh vác. Có thể sự gánh vác chưa phải là cân bằng, nhưng vẫn có sự sẻ chia.Sharing the work with your partner (husband or wife): raising a child with additional needs is harder than raising a typically developing child. It is worth talking with your partner and dividing up the care between you. That way you are both carrying it. The load may not be evenly balanced, but it is shared.

Nếu một mình lo: Để con xem TV 15 phút (không sao đâu!), mình ngồi uống trà hoặc nằm nghỉ. Con an toàn, mình cần nghỉ. Đừng tự trách mình nhé. Đôi khi đi bộ lâu cũng cần ngồi nghỉ chân một chút, rồi lại đứng lên đi tiếp. Bạn đang nghỉ ngơi, chứ không phải là bỏ cuộc.If you are managing on your own: let your child watch television for 15 minutes (it really is fine!) while you sit with a cup of tea or lie down. Your child is safe; you need the rest. Do not blame yourself. On a long walk you sometimes need to sit and rest your legs a while before standing up and carrying on. You are resting, not giving up.

Nếu có nhiều con: Nhờ con lớn giúp trông con nhỏ một lúc. Nhất là những lúc cần phải làm việc riêng (như đi tắm, hoặc tranh thủ làm một việc nào đó). Sau đó, cảm ơn con lớn vì việc con làm rất có ích với mình, mình cảm thấy được san sẻ và đỡ đần. Mình tin rằng, các bạn nhỏ đều muốn giúp đỡ, đều muốn mình có ý nghĩa với gia đình. Bạn hãy chọn cách nói phù hợp, tránh cho các con cảm thấy bị áp đặt. Hãy chọn cách nói để khơi gợi lòng trắc ẩn của các con. Như là: mẹ cảm thấy mệt quá vì hôm nay nhiều việc hơn mọi hôm, con có thể giúp mẹ trông em trong 20 phút được không?If you have several children: ask your older child to look after the younger one for a while — especially when you need to do something for yourself (take a shower, or get a job done while you can). Afterwards, thank your older child, because what they did really helped you, and it made you feel that the load was being shared and lightened. I believe every child wants to help, wants to matter to the family. Choose your words carefully so that they do not feel it is being imposed on them. Choose words that call on their kindness. Something like: I am so tired today because there has been more to do than usual — could you help me by looking after your little brother or sister for 20 minutes?

Khi nào cần tìm hỗ trợWhen to look for support

Nếu bạn thấy mình mất ngủ liên tục, cáu gắt với con thường xuyên, hay cảm thấy tuyệt vọng - đó là lúc cần tìm ai đó nói chuyện. Có thể là bạn bè, người thân, hoặc chuyên gia.If you find you cannot sleep night after night, that you snap at your child often, or that you feel hopeless — that is the moment to find someone to talk to. A friend, a relative, or a professional.

Tìm hỗ trợ là thông minh, không phải yếu đuối đâu các bạn. Ở Việt Nam mình có xu hướng "tự lo liệu", nhưng có lúc cần người khác giúp mới qua được giai đoạn khó.Looking for support is wise, not weak. Here in Vietnam we tend to “manage on our own”, but sometimes it takes someone else's help to get through a hard stretch.

Cuối cùng thì…And finally…

Bạn hãy thử chọn 1-2 cách mà mình thấy dễ làm nhất, phù hợp với mình nhất để chăm sóc bản thân nhé. Bạn hãy tin rằng, khi mình khỏe, con cũng cảm nhận được năng lượng tích cực từ mình. Đó cũng là một cách yêu thương con đấy. Chăm sóc bản thân không phải ích kỷ, mà là để mình có đủ sức và bền bỉ trên hành trình cùng con.Bạn cũng xứng đáng được yêu thương và chăm sóc - đừng quên bản thân nha.Try choosing one or two of these — whichever feel easiest and suit you best — as your way of looking after yourself. Trust that when you are well, your child feels that good energy coming from you. That is a way of loving your child too. Looking after yourself is not selfish; it is what gives you the strength and the staying power for the journey with your child. You deserve to be loved and cared for as well — do not forget yourself.

Trên đây chỉ là góc nhìn của bản thân mình, nó có thể hợp với bạn, hoặc không phù hợp vì mỗi người một hoàn cảnh và lựa chọn riêng. Nếu bạn có cách của riêng mình rồi, thì tuyệt quá. Mình mong bạn luôn bình an và vui vẻ bên con. Hãy chia sẻ với mình cách của bạn nếu không ngại nhé.What I have written here is only my own view. It may suit you, or it may not, because each of us has our own circumstances and our own choices. If you already have a way of your own, that is wonderful. I hope you are always at peace and happy alongside your child. And do share your way with me, if you do not mind.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 1 trong 5Series: The pointing series · Part 1 of 5

Tại sao chương trình của con lại có “dạy chỉ tay”?Why does your child's programme include “teaching pointing”?

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Tuần trước, có một mẹ hỏi mình: "Cô ơi, con em can thiệp được 4 tháng rồi mà vẫn chưa biết chỉ tay. Thầy cô bảo phải dạy chỉ tay vì nó trong chương trình của con. Vậy tại sao phải dạy chỉ tay ạ?"Last week a mother asked me: "My child has been in intervention for 4 months and still doesn't point. The teachers say pointing has to be taught because it's in his programme. So why does pointing have to be taught?"

Nhiều phụ huynh cũng thắc mắc tương tự. Để mình giải thích tại sao chỉ tay lại được coi trọng đến vậy.A lot of parents wonder the same thing. Let me explain why pointing matters so much.

Hầu hết chúng ta nghĩ chỉ tay chỉ đơn giản là chỉ về phía một vật gì đó. Nhưng thực tế, chỉ tay mang những mục đích khác nhau:Most of us think of pointing as simply aiming a finger at something. In reality, pointing serves several different purposes:

Chỉ tay để YÊU CẦU (xuất hiện tầm 9-10 tháng tuổi)Pointing to request (emerges around 9–10 months)

Khi con chỉ vào hộp bánh quy trên kệ cao, con đang nói: "Mẹ ơi, con muốn cái đó!" Đây là cách trẻ thể hiện nhu cầu của mình-muốn có được thứ gì đó.When your child points at the box of biscuits on the high shelf, he is saying: "Mum, I want that!" This is how a child expresses a need — wanting to get hold of something.

Chỉ tay để CHIA SẺ (xuất hiện tầm 12 tháng tuổi)Pointing to share (emerges around 12 months)

Khi con chỉ một chiếc chong chóng nhiều màu sắc đang quay và nhìn vào mắt mẹ, con đang nói: "Mẹ ơi, nhìn kìa! Hay quá phải không!" Trong tình huống này, con muốn chia sẻ niềm vui, sự thích thú với mẹ. Đây là loại chỉ tay khó hơn bởi vì để có thể chỉ tay vào chiếc chong chóng đó, con phải có sự yêu thích với nó, sau đó là muốn khoe với mẹ, chia sẻ với mẹ niềm vui này.When your child points at a brightly coloured pinwheel spinning round and looks into his mother's eyes, he is saying: "Mum, look! Isn't that lovely!" Here he wants to share his delight, his interest, with his mother. This kind of pointing is harder, because in order to point at that pinwheel he first has to find it interesting, and then want to show it off to his mother, to share that pleasure with her.

Chỉ tay để TRẢ LỜI một yêu cầu hoặc một câu hỏi (xuất hiện muộn hơn)Pointing to answer a request or a question (emerges later)

Khi mẹ hỏi "Giày của con đâu?" và con chỉ vào góc phòng, con đang cung cấp thông tin cho mẹ. Để làm được việc này, con cần hiểu câu hỏi của mẹ.When his mother asks "Where are your shoes?" and he points to the corner of the room, he is giving her information. To do this, he needs to understand her question.

Các nghiên cứu cho thấy những mục đích khác nhau này phản ánh các khả năng giao tiếp quan trọng, và chúng dự báo sự phát triển ngôn ngữ sau này của một đứa trẻ. Chính bởi vậy, các công cụ đánh giá và các chương trình can thiệp dành cho trẻ sẽ có phần kiểm tra kỹ năng chỉ tay này.Research shows that these different purposes reflect important communication abilities, and that they predict a child's later language development. That is why assessment tools and intervention programmes for children include a section that checks this pointing skill.

Vậy bây giờ sẽ nói về trẻ tự kỷ và 3 mục đích của việc chỉ tay, cái nào khó, cái nào dễ dạy hơn.So now let's talk about autistic children and the three purposes of pointing — which ones are harder to teach, and which are easier.

Thực tế qua kinh nghiệm của bản thân mình, thì dạy trẻ chỉ tay để yêu cầu (lấy, xin, muốn) một thứ gì đó là dễ thực hiện hơn so với hai mục đích kia (để chia sẻ và trả lời câu hỏi).In my own experience, teaching a child to point in order to request something (to get it, to ask for it, to have it) is easier than the other two purposes (pointing to share and pointing to answer a question).

Vì sao lại như vậy?Why is that?

Bạn biết đó, trẻ tự kỷ thường có khó khăn về giao tiếp xã hội. Sở thích của một số trẻ rất hạn hẹp (từ đồ ăn, đồ chơi, đồ dùng) cho đến nhu cầu và kỹ năng chia sẻ còn nhiều hạn chế, do đó nhiều khi dạy trẻ tự kỷ nhìn theo tay của chúng ta chỉ về một đồ vật thì dễ, còn việc dạy để con có nhu cầu muốn khoe một vật thú vị, thì thường rất rất khó, bởi vì động lực ở đâu để có thể thực hiện những kỹ năng này nếu con chẳng có hứng thú gì với thứ đó, phải không nào.As you know, autistic children often have difficulty with social communication. Some children have very narrow interests (in food, toys, everyday objects), and their need and their skill for sharing are still quite limited. So teaching an autistic child to follow our hand as we point at an object is often easy, while teaching him to want to show off something interesting is usually very, very hard — because where would the motivation come from for such a skill if the thing holds no interest for him at all?

Giờ bạn đã hiểu tại sao chỉ tay xuất hiện trong chương trình của con rồi! Nó không chỉ là một động tác đơn giản, mà phản ánh 3 khả năng giao tiếp quan trọng. Do vậy, khi dạy trẻ chỉ tay, bạn hãy thử xem, con của mình đang học chỉ tay để làm gì, và mong muốn con có thể chỉ tay vào các mục đích nào nhé.Now you understand why pointing appears in your child's programme! It isn't just a simple gesture; it reflects three important communication abilities. So when you teach your child to point, take a look at what your child is learning to point for, and think about which purposes you would like him to be able to point for.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 2 trong 5Series: The pointing series · Part 2 of 5

Chỉ tay có phải cách duy nhất để con yêu cầu và chia sẻ?Is pointing the only way your child can request and share?

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Sau khi đọc bài về 3 mục đích của chỉ tay, một mẹ nhắn tin hỏi mình: "Cô ơi, con em không chỉ tay nhưng hay kéo tay em đi lấy đồ. Vậy con em có đang giao tiếp không ạ? Hay chỉ có chỉ tay mới tính?"After reading the article on the three purposes of pointing, a mother messaged me: “Teacher, my child doesn’t point, but he often pulls my hand over to get things. So is he communicating? Or does only pointing count?”

Mình trả lời ngay: "Tất nhiên là bé đang giao tiếp! Chỉ tay không phải là cách duy nhất."I answered right away: “Of course he is communicating! Pointing is not the only way.”

Để lấy một đồ vật, trẻ có thể thể yêu cầu bằng nhiều cách khác nhau và việc này cũng tương tự với chia sẻ niềm vui vậy. Mình sẽ viết cụ thể ở bên dưới, và chia bài thành 2 phần: phần : các cách chỉ tay để yêu cầu, phần : các cách để chia sẻ niềm vui, hứng thúTo get hold of an object, a child can make a request in many different ways, and the same is true of sharing delight. I will go into detail below, and I have divided this article into two parts: Part 1, the ways a child requests; Part 2, the ways a child shares delight and interest.

Nếu bạn nào chưa đọc bài số 1 “vì sao chương trình của con lại có “dạy chỉ tay” thì bạn hãy đọc để có kết nối hơn với bài này nhé.If you have not yet read article number 1, “why does my child’s programme include ‘teaching pointing’”, do read it so that this article connects better for you.

Phần : Có phải chỉ tay bằng ngón trỏ là cách duy nhất để yêu cầu?-Trả lời: Không. Vì trẻ có thể làm bằng các cách sauPart 1: Is pointing with the index finger the only way to request? Answer: No. A child can do it in the following ways as well.

Kéo tay người lớn (Hand-leading): Thay vì chỉ vào hộp bánh trên kệ cao, con sẽ kéo tay mẹ đến tận chỗ bánh. Con đang nói rõ ràng: "Mẹ ơi, con muốn cái này!" - hiệu quả 100%.Pulling an adult’s hand (hand-leading): instead of pointing at the box of biscuits on the high shelf, your child pulls your hand all the way over to the biscuits. He is saying it clearly: “Mum, I want this!” — 100% effective.

Nhìn qua nhìn lại (Gaze shifting): Con nhìn đồ vật, rồi nhìn mẹ, rồi lại nhìn đồ vật. Con đang "chỉ bằng mắt" - thể hiện mong muốn rất tinh tế.Looking back and forth (gaze shifting): your child looks at the object, then at you, then back at the object. He is “pointing with his eyes” — showing what he wants in a very subtle way.

Mang đồ vật đến: Con lấy hộp bánh kẹo đưa cho mẹ.Bringing the object over: your child picks up the box of sweets and hands it to you.

Đặt đồ vật vào tay người lớn: Con đưa cả chai nước cho mẹ khi muốn uống, rất rõ ràng và hiệu quả.Placing the object in the adult’s hand: your child gives you the whole bottle of water when he wants a drink — very clear and very effective.

Đứng gần và phát ra âm thanh: Con đứng sát tủ lạnh, nhìn mẹ và tạo âm "Ơ ơ". Con đang kết hợp vị trí cơ thể và âm thanh để thể hiện nhu cầu.Standing close by and making a sound: your child stands right up against the fridge, looks at you and makes an “uh-uh” sound. He is combining where he puts his body with a sound in order to show what he needs.

Tất cả những cách này đều là cách giao tiếp chức năng hiệu quả, giúp trẻ đạt được điều con muốn ngay lập tức.All of these are effective functional communication, and they get the child what he wants straight away.

Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là: nếu các cách này đều hiệu quả, thì tại sao phải dạy chỉ tay. Mình phân tích thêm ở dưới này nhé.But a question comes up: if these ways all work, why teach pointing at all? Let me go into that further below.

Thứ nhất, chúng hiệu quả nhưng lại có một số hạn chế nhất định, như:First, they work, but they do have certain limitations, such as:

Hạn chế về khoảng cách: Kéo tay và đặt đồ vật vào tay đều yêu cầu con phải ở gần người lớn. Khi con ở xa - trong lớp học, sân chơi, hay thậm chí chỉ ở đầu bên kia phòng - những cách này trở nên không khả thi.A limitation of distance: hand-leading and placing an object in your hand both require the child to be near the adult. When he is far away — in the classroom, on the playground, or even just at the other end of the room — these ways become unworkable.

Hạn chế về tình huống: Khi người lớn đang bận (nấu ăn, lái xe, nói chuyện điện thoại), việc kéo tay có thể không an toàn hoặc không phù hợp.A limitation of circumstance: when the adult is busy (cooking, driving, on the phone), pulling a hand may not be safe or may not be appropriate.

Hạn chế về độc lập: Những cách này thường đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của người lớn, điều này có thể hạn chế sự tự lập của con trong việc giao tiếp.A limitation of independence: these ways usually require an adult to take part directly, which can limit how independent the child is in communicating.

Hạn chế trong môi trường xã hội: Trong lớp học với nhiều trẻ, việc kéo tay cô giáo có thể không khả thi khi cô đang giảng bài cho cả lớp.A limitation in social settings: in a classroom with many children, pulling the teacher’s hand may not be workable while she is teaching the whole class.

Thứ hai, chỉ tay vẫn cần dạy vì nó có một ưu thế đặc biệt, đầu tiên là câu chuyện khoa học về chỉ tay,Second, pointing still needs to be taught because it has one particular advantage. Let me start with the science of pointing.

Nghiên cứu của Özçalışkan và cộng sự (2016) cho thấy rằng "early deictic but not other gestures predict later vocabulary" - chỉ có chỉ tay (deictic gestures) chứ không phải các cử chỉ khác có thể dự đoán sự phát triển từ vựng của trẻ tự kỷ một năm sau đó. Nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng chỉ có chỉ tay ở xa (distal pointing) mới có mối liên hệ mật thiết với việc phát triển ngôn ngữ.Research by Özçalışkan et al. (2016) found that “early deictic but not other gestures predict later vocabulary” — only pointing (deictic gestures), and not other gestures, can predict the vocabulary development of autistic children a year later. Other research also confirms that only distal pointing has a close relationship with language development.

Sau đó, là những lợi ích của nó, như là:Then come its benefits, such as:

Phát triển khái niệm trừu tượng: Khi con chỉ vào thứ ở xa, con đang học rằng giao tiếp có thể về những thứ không cần chạm vào.Developing abstract concepts: when your child points at something far away, he is learning that communication can be about things he does not need to touch.

Mở rộng phạm vi giao tiếp: Thay vì chỉ có thể "yêu cầu" những thứ trong tầm tay, con học được cách "tham chiếu" đến toàn bộ thế giới xung quanh. Điều này mở ra vô số cơ hội học từ vựng mới.Widening the range of communication: instead of only being able to “request” things within reach, your child learns to “refer” to the whole world around him. This opens up countless opportunities to learn new vocabulary.

Độc lập trong giao tiếp: Con có thể thu hút sự chú ý của người lớn và truyền đạt thông điệp từ bất kỳ khoảng cách nào, không cần phải đến gần hay kéo tay.Independence in communicating: your child can draw an adult’s attention and get his message across from any distance, without having to come close or pull a hand.

Chuẩn bị cho ngôn ngữ: Giống như ngôn ngữ, chỉ tay ở xa giúp con học cách "nói" về những thứ không cần chạm vào - từ máy bay trên trời đến đồ chơi trên kệ cao. Đây là kỹ năng quan trọng cho việc sử dụng từ ngữ để chỉ những vật thể ở xa trong không gian.Preparing for language: like language itself, distal pointing helps your child learn to “talk” about things he does not need to touch — from an aeroplane in the sky to a toy on a high shelf. This is an important skill for using words to refer to objects that are far away in space.

Do vậy, những cách con đang dùng (kéo tay, đặt đồ vật vào tay bạn, tạo âm…) có giá trị cho việc giao tiếp ngay lập tức và nên được ghi nhận, đó cũng là giao tiếp có chức năng. Tuy nhiên, nếu bạn biết việc sử dụng ngón trỏ để chỉ có giá trị như vậy, hãy khuyến khích và thử dạy cho con xem nhé.So the ways your child is using now (pulling your hand, placing an object in your hand, making sounds…) have real value for communicating in the moment and should be recognised; they too are functional communication. Even so, now that you know how valuable using the index finger to point is, do encourage it and try teaching it to your child.

Phần : Vậy còn vấn đề chỉ tay để chia sẻ sự quan tâm, hứng thú, niềm vui thì sao, có phải là cách duy nhất không? Trả lời: Tất nhiên là không. Để thể chia sẻ những điều thú vị trên, trẻ có thể biểu hiện:Part 2: What about pointing in order to share attention, interest and delight — is that the only way? Answer: of course not. To share those lovely things, a child may show it by:

Ánh mắt sáng lên: Khi thấy chiếc chong chóng quay, mắt con sáng lên và nhìn về phía mẹ. Con đang "khoe" bằng ánh mắt: "Mẹ ơi, con thấy cái này hay lắm!"Eyes lighting up: when he sees the pinwheel spinning, your child’s eyes light up and he looks over at you. He is “showing off” with his eyes: “Mum, I think this is wonderful!”

Biểu cảm khuôn mặt rạng rỡ: Con cười toe toét khi nghe nhạc yêu thích, mắt long lanh khi thấy bong bóng bay. Khuôn mặt con đang "nói" rất nhiều về niềm vui.A beaming facial expression: your child grins from ear to ear when he hears his favourite music, his eyes sparkle when he sees bubbles floating. His face is “saying” a great deal about his delight.

Cử động toàn thân: Con nhún nhảy khi thấy máy bay bay qua, vỗ tay khi thấy hoa đẹp. Con đang chia sẻ bằng cả cơ thể.Movement of the whole body: your child bounces up and down when he sees an aeroplane go over, claps his hands when he sees a pretty flower. He is sharing with his whole body.

Mang đồ đến "khoe": Con ôm con búp bê đẹp đến trước mặt mẹ, muốn mẹ cùng chơi.Bringing something over to “show off”: your child carries his lovely doll over to you, wanting you to play with him.

Mình muốn khẳng định với bạn là, đối với việc chia sẻ niềm vui, thì tất cả những cách này đều có giá trị như nhau! Không cách nào "tốt hơn" cách nào.I want to say this to you clearly: when it comes to sharing delight, all of these ways are equally valuable! No one way is “better” than another.

Bạn có nhớ, bài trước mình nói rằng chỉ tay có mục đích để chia sẻ những vui thích xã hội, và việc dạy chỉ tay cho mục đích này khá là khó đối với trẻ tự kỷ.Do you remember that in the previous article I said pointing has the purpose of sharing social enjoyment, and that teaching pointing for this purpose is quite hard for autistic children?

Đến hôm nay, bạn biết rằng có những ngôn ngữ của cơ thể như mình liệt kê ở trên, cũng có giá trị về kết nối xã hội, và chúng không phân cao thấp, chúng cũng không thể hiện dáng điệu nào sẽ có lợi thế hơn. Mà có lẽ tốt nhất, khi học về biểu cảm xã hội, nên là biết cách thể hiện một cách đa dạng. Do vậy, về phương diện giao tiếp xã hội và cảm xúc, chỉ tay có thể được thay thế bằng những hành động, cử chỉ khác.As of today, you know that the body language I listed above also has value for social connection, that these ways are not ranked higher or lower than one another, and that none of them shows one way of carrying yourself to be more advantageous than another. Perhaps the best thing, when learning social expression, is to know how to express it in a variety of ways. So where social and emotional communication is concerned, pointing can be replaced by other actions and gestures.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 3 trong 5Series: The pointing series · Part 3 of 5

Con đã sẵn sàng học chỉ tay chưa?Is your child ready to learn pointing?

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Mình nhận thấy nhiều cha mẹ có xu hướng nghĩ rằng tất cả trẻ đều có thể học chỉ tay theo cùng một cách. Thực tế, mỗi con có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến khả năng này.I've noticed that many parents tend to assume every child can learn pointing in the same way. In reality, each child has their own particular characteristics that affect this ability.

Hôm nay mình sẽ giúp mọi người cách đánh giá xem con có sẵn sàng học chỉ tay hay không, và hiểu rõ những yếu tố có thể tạo ra thách thức riêng cho từng con.Today I'll help you work out whether your child is ready to learn pointing, and understand the factors that can create challenges specific to your own child.

Nếu bạn nào chưa đọc bài số 1 và 2 thì hãy đọc để có kết nối tốt hơn với bài này nha.If you haven't read articles 1 and 2 yet, do read them so that this one connects better.

Bây giờ, chúng ta hãy xem con có 2 nền tảng sau đây để bắt đầu học chỉ tay chưa nhé.Now let's look at whether your child has the following two foundations in place to start learning pointing.

"Con có thể chỉ bằng một ngón dễ dàng không?"“Can your child point easily with one finger?”

Bạn hãy thử quan sát xem con đang dùng cả bàn tay hay sử dụng một ngón tay để chỉ một vật. Hãy xem con có khó tách ngón trỏ ra khỏi các ngón khác để tạo thành một cử chỉ hay không. Để quan sát, bạn có thể thử vài hoạt động sau:Try observing whether your child uses the whole hand or one finger to point at an object. See whether they find it hard to separate the index finger from the other fingers to form the gesture. To observe this, you can try a few of these activities:

  • Chọc lỗ nhỏ trên giấyPoking small holes in paper
  • Nhấn nút thang máyPressing a lift button
  • Chạm vào màn hình điện thoạiTouching a phone screen
  • Chỉ vào tranh trong sáchPointing at pictures in a book

Nếu con gặp khó khăn: mình chia sẻ với mọi người về một số đặc điểm về vận động và giác quan có thể ảnh hưởng tới kỹ năng chỉ tay của con, mọi người hãy để ý để giúp con nhé.If your child finds this difficult: let me share some motor and sensory characteristics that can affect your child's pointing skill — do watch out for them so that you can help your child.

Con quá nhạy cảm:Your child is over-responsive:

  • Sợ âm thanh to, ánh sáng mạnh, hoặc đám đôngAfraid of loud sounds, bright light, or crowds
  • Tránh xa một số kết cấu, vị hoặc mùiStays away from certain textures, tastes or smells
  • Việc này dẫn đến con có thể không chú ý đến những gì mẹ muốn con chỉ vì đang bị quá tải bởi môi trườngThis means your child may not attend to what you want them to point at, because they are overloaded by the environment

Con tìm kiếm cảm giác:Your child is sensory seeking:

  • Thích xoay tròn, nhảy, va đậpLikes spinning, jumping, crashing into things
  • Chỉ tay vào những thứ tạo cảm giác (đèn nhấp nháy, quạt quay) thay vì những thứ có chức năng thực tếPoints at things that create a sensation (flashing lights, a spinning fan) rather than things with a practical function
  • Do vậy, cử chỉ chỉ tay có thể khiến con mất cân bằng cảm giác nếu con đang cần kích thích thị giác.So the pointing gesture itself can throw your child's sensory balance off if what they need at that moment is visual input.

Đặc điểm thị giácVisual characteristics

Vấn đề về thị lực:Problems with eyesight:

  • Thị lực kém hoặc mùPoor vision or blindness
  • Rối loạn thị giác do nãoCerebral visual impairment
  • Không thấy vật thể để chỉCannot see the object to point at
  • Không thể follow tay chỉ của người khácCannot follow someone else's pointing hand
  • Định hướng không gian khó khănDifficulty with spatial orientation

Đặc điểm vận độngMotor characteristics

Khó khăn về trương lực cơ:Difficulties with muscle tone:

  • Cơ bắp quá cứng hoặc quá mềmMuscles too stiff or too floppy
  • Không thể tách ngón trỏ riêng biệtCannot isolate the index finger on its own
  • Khó giữ tay ổn định khi chỉDifficulty holding the hand steady while pointing

Vấn đề lên kế hoạch vận động:Motor planning problems:

  • Biết muốn làm gì nhưng cơ thể không theo ýKnows what they want to do, but the body won't follow
  • Có thể có run tay hoặc chuyển động không kiểm soát đượcMay have a tremor in the hands, or movements they cannot control

Đặc điểm nhận thứcCognitive characteristics

Chậm phát triển:Developmental delay:

  • Không hiểu mục đích của việc chỉ tayDoesn't understand the purpose of pointing
  • Không kết nối giữa cử chỉ và kết quảDoesn't connect the gesture with the outcome
  • Quên nhanh những gì đã họcQuickly forgets what has been learned
  • Khả năng tập trung ngắnShort attention span

Nếu bạn đã từng mang con đi đánh giá tổng thể, hẳn là sẽ được giải thích về các đặc điểm này của con. Còn nếu bạn chưa bao giờ đưa con đi đánh giá, thì thử quan sát thật kỹ, sau đó thử trao đổi với một nhà chuyên môn tin cậy để được giúp đỡ nhé.If you have taken your child for a full assessment, these characteristics of your child will have been explained to you. And if you have never had your child assessed, try observing very closely, then talk it through with a professional you trust so that you can get help.

"Con có động lực muốn những thứ từ môi trường xung quanh, hoặc từ chúng ta không?"“Is your child motivated to want things from the environment around them, or from us?”

Nhớ lại bài số 1 - mục đích của chỉ tay có thể là:Remember from article 1 — the purpose of pointing can be:

Con có động lực muốn những thứ ở xa.Your child is motivated to want things that are far away.

  • Con có những thứ rõ ràng muốn có? (đồ ăn trên kệ cao, đồ chơi ngoài tầm với)Are there things your child clearly wants? (food on a high shelf, a toy out of reach)
  • Con có tỏ ra khó chịu hoặc muốn được giúp để lấy những thứ ở ngoài tầm với không?Does your child get upset, or want help, in order to get things that are out of reach?
  • Con có cố gắng cho mẹ biết con muốn những thứ ở xa không?Does your child try to let you know that they want something far away?

Con có muốn chia sẻ những thứ thú vị với mẹ không?Does your child want to share interesting things with you?

  • Con có những thứ làm con thích thú, háo hức? (máy bay bay qua, đèn nhấp nháy)Are there things that delight your child, that make them excited? (a plane flying over, flashing lights)
  • Con có tìm mẹ khi thấy điều gì đó hay ho ở xa không?Does your child look for you when they see something interesting far away?
  • Con có muốn mẹ cùng xem những gì con đang thấy thích thú không?Does your child want you to look with them at what they are finding interesting?

Nếu con chưa có động lực rõ ràng:If your child doesn't have clear motivation yet:

Bước 1: Tìm hiểu con thích gìStep 1: Find out what your child likes

  • Quan sát con trong 1 tuần: Con dừng lại nhìn gì? Con lặp lại hoạt động nào?Observe your child for a week: What do they stop to look at? Which activity do they repeat?
  • Có thể là âm thanh (quạt kêu, nhạc), ánh sáng (đèn nhấp nháy), chuyển động (xe chạy, nước chảy)It might be sound (a fan humming, music), light (flashing lights), or movement (cars going past, running water)

Bước 2: Làm cho sở thích đó thú vị hơnStep 2: Make that interest more exciting

Ví dụ:For example:

  • Nếu con thích quạt quay: Đặt nhiều quạt nhỏ khác nhau, bật tắt bất ngờ, thêm ruy băng bay theo gióIf your child likes a spinning fan: set out several different small fans, switch them on and off unexpectedly, add ribbons that fly in the draught
  • Nếu con thích ánh sáng: Dùng đèn pin chiếu lên trần, đèn LED đổi màu, bong bóng phản chiếu ánh sángIf your child likes light: shine a torch on the ceiling, use colour-changing LEDs, use bubbles that reflect the light
  • Nếu con thích nước: Thêm màu vào nước, tạo bọt xà phòng, dùng ống nhỏ giọtIf your child likes water: add colour to the water, make soap suds, use a pipette

Mục đích của việc này là, biến những thứ con thích trở nên "wow" hơn, từ đó, tạo cho con cảm giác muốn nhìn mẹ để "khoe": "Mẹ ơi, nhìn kìa!" - đây chính là bước đầu của việc muốn chia sẻ.The point of all this is to make the things your child likes feel more “wow”, so that your child gets the urge to look at you and “show off”: “Look, Mum!” — and that is the very first step towards wanting to share.

Tóm lại, khi dạy chỉ tay, bạn hãy nhớTo sum up, when you teach pointing, remember

Mỗi con đều đặc biệt riêng - không có cách tiếp cận chung cho tất cả, do vậy cách dạy của một cha mẹ/một cô giáo khác có thể phù hợp với trẻ của họ, bạn nên đánh giá năng lực của bé của mình và lựa chọn cách phù hợp nhé.Every child is unique — there is no single approach that works for all of them. So the way another parent or another teacher teaches may suit their child; you should assess your own child's abilities and choose the approach that fits.

Dạy chỉ tay không phải cứ làm mẫu, ép trẻ, hỗ trợ là trẻ có thể làm được ngay, cần thời gian bạn nhé. Nhất là những bạn có nhiều khó khăn phức tạp cùng một lúc như: giác quan, nhận thức, vận động và năng lực hiểu ngôn ngữ hạn chế. Nếu bạn dạy mãi mà chưa hiệu quả, hãy tìm nhà chuyên môn tốt nhé.Teaching pointing is not a matter of modelling it, pushing your child, and giving support so that they can do it straight away — it takes time. Especially for children who have several complex difficulties at once: sensory, cognitive, motor, and limited ability to understand language. If you have been teaching for a long time without results, do find a good professional.

Điều cuối cùng mình muốn nhắn cho bạn, chỉ tay không phải mục tiêu duy nhất - giao tiếp là mục tiêu lớn hơn, do vậy bài viết sau, bạn hãy đón đọc để nhìn được giao tiếp rộng lớn thế nào và vượt khỏi nỗi lo, nếu không dạy được kỹ năng này thì sao nhé.The last thing I want to say to you is that pointing is not the only goal — communication is the bigger goal. So do look out for the next article, to see how broad communication really is and to move past the worry of what happens if you can't teach this particular skill.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 4 trong 5Series: The pointing series · Part 4 of 5

Chỉ tay: một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh giao tiếp lớnPointing: one small piece of a much larger communication picture

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Sau 3 bài viết về chỉ tay, mình nhận được nhiều câu hỏi: "Cô ơi, vậy cuối cùng con em có cần phải học chỉ tay không?", "Con em giao tiếp bằng cách khác rất tốt, có cần ép học chỉ tay không?"After three articles about pointing, I have been getting a lot of questions: “So in the end, does my child actually need to learn pointing?”, “My child communicates very well in other ways — do I need to push pointing on him?”

Hôm nay, chúng ta sẽ "zoom out" để nhìn chỉ tay trong bức tranh giao tiếp tổng thể, giúp cha mẹ thay đổi cách nhìn từ "con có biết chỉ tay không?" sang "con có giao tiếp hiệu quả không?"Today we are going to “zoom out” and look at pointing inside the whole communication picture, so that you can shift from asking “can my child point?” to asking “is my child communicating effectively?”

Nếu bạn nào chưa đọc các bài trước thì hãy đọc để hiểu rõ series này nhé.If you have not read the earlier articles, please do read them so that this series makes sense.

Những gì chúng ta đã học qua 3 bàiWhat we have learned across the three articles

Bài 1 - "Tại sao dạy chỉ tay?" Chỉ tay có 3 mục đích chính: yêu cầu (9-10 tháng), chia sẻ (12+ tháng), và trả lời câu hỏi. Với trẻ tự kỷ, dạy chỉ tay để yêu cầu dễ hơn chỉ tay để chia sẻ vì vấn đề về động lực xã hội.Article 1 — “Why teach pointing?” Pointing has three main purposes: requesting (9–10 months), sharing (12 months and up), and answering questions. For autistic children, teaching pointing to request is easier than teaching pointing to share, because of differences in social motivation.

Bài 2 - "Có những cách nào khác?" Con có thể thể hiện cùng một ý định bằng nhiều cách: kéo tay, nhìn luân phiên, đưa đồ vật. Tuy nhiên, chỉ tay ở xa có giá trị đặc biệt cho phát triển ngôn ngữ dựa trên bằng chứng nghiên cứu.Article 2 — “What other ways are there?” A child can express the same intention in many ways: pulling your hand, looking back and forth, handing you an object. Even so, pointing at things at a distance has a particular value for language development, based on research evidence.

Bài 3 - "Con có sẵn sàng chưa?" Mỗi con có đặc điểm riêng về vận động, giác quan, nhận thức. Những đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng học chỉ tay và cách tiếp cận phù hợp cho từng con.Article 3 — “Is my child ready?” Every child has their own profile of motor skills, sensory processing and cognition. These characteristics affect their ability to learn pointing and which approach suits them best.

Câu hỏi lớn: Làm sao để có cái nhìn tổng thể và quyết định ưu tiên gì cho con mình?The big question: how do I get the whole picture and decide what to prioritise for my own child?

Bạn hãy đọc kỹ, và chậm thôi những phần ở dưới này nhé. Mình sẽ chọn cách viết gạch đầu dòng vào ý chính, để bạn dễ theo dõi.Please read the sections below carefully, and slowly. I am going to use bullet points for the main ideas so that they are easier to follow.

Chỉ tay - Một diễn viên trong dàn nhạc giao tiếpPointing — one player in the communication orchestra

Chỉ tay là một "hành vi giao tiếp"Pointing is a “communicative behaviour”

Khi con chỉ tay, đó là một hành vi - một cử chỉ cụ thể mà chúng ta có thể quan sát được.When your child points, that is a behaviour — a specific gesture that we can observe.

Nhưng hành vi giao tiếp không chỉ có chỉ tay. Còn có:But communicative behaviour is not only pointing. There is also:

  • Kéo tay người lớnPulling an adult’s hand
  • Nhìn luân phiên giữa vật và ngườiLooking back and forth between an object and a person
  • Đưa đồ vật cho người khácHanding an object to someone
  • Phát ra âm thanhMaking a sound
  • Biểu hiện cảm xúc qua khuôn mặtShowing emotion through facial expression
  • Cử động cơ thểMoving the body

Tất cả đều nằm trong "phổ giao tiếp" rộng lớnAll of it sits inside a wide “communication spectrum”

Ví dụ thực tế: Bé Linh 3 tuổi muốn bình nước trên kệ cao. Bé có thể:A real example: Linh is 3 years old and wants the water bottle on a high shelf. She could:

  • Chỉ tay lên bình nướcPoint up at the water bottle
  • Kéo tay mẹ đến tủ bếpPull her mother’s hand over to the kitchen cupboard
  • Mang ghế đến để trèo lênBring a chair over to climb up
  • Kêu "ư ư" và nhìn lên kệMake an “uh uh” sound and look up at the shelf
  • Khóc và đứng dưới kệCry while standing under the shelf

Tất cả đều là hành vi giao tiếp hợp lệ!Every one of these is a valid communicative behaviour!

Mối quan hệ giữa "chức năng" và "hành vi”.The relationship between “function” and “behaviour”.

Đoạn này, bạn hãy tạm hiểu hành vi giao tiếp là cách mà con thể hiện điều mình muốn, còn chức năng giao tiếp là mục đích của con khi giao tiếp với người khác nhé. Mình muốn bạn hãy đọc thật kỹ phần dưới đây để hiểu hơn về mối liên hệ giữa hai khái niệm này.For this section, take communicative behaviour to mean the way your child shows what they want, and communicative function to mean your child’s purpose in communicating with another person. I would like you to read the part below very carefully, to understand the link between these two ideas better.

Một hành vi - Nhiều chức năngOne behaviour — many functions

Cùng một cử chỉ chỉ tay có thể có nhiều mục đích:The same pointing gesture can serve several purposes:

Khi chỉ vào cùng một chiếc bánh, trẻ có thể có những mục đích sau:Pointing at the same cake, a child might have any of these purposes:

  • Chức năng 1 (Yêu cầu): "Mẹ ơi, con muốn ăn bánh!"Function 1 (Requesting): “Mum, I want to eat the cake!”
  • Chức năng 2 (Chia sẻ): "Mẹ ơi, nhìn cái bánh đẹp kìa!"Function 2 (Sharing): “Mum, look at that lovely cake!”
  • Chức năng 3 (Trả lời): Mẹ hỏi "Bánh ở đâu?" → Con chỉFunction 3 (Answering): Mum asks “Where is the cake?” → the child points

Ý nghĩa của ví dụ trên là: Cùng một hành vi nhưng mục đích giao tiếp hoàn toàn khác nhau.What the example above means is this: the same behaviour, but completely different communicative purposes.

Một chức năng - Nhiều hành viOne function — many behaviours

Cùng một mục đích có thể thể hiện bằng nhiều cách:The same purpose can be expressed in many ways:

Muốn xin bánh (cùng một chức năng), lại có nhiều cách để thực hiện, như là:Wanting to ask for cake (the same function) can be done in many ways, such as:

  • Cách 1: Chỉ tay vào bánhWay 1: Pointing at the cake
  • Cách 2: Kéo tay mẹ đến bánhWay 2: Pulling Mum’s hand over to the cake
  • Cách 3: Đưa hộp bánh cho mẹWay 3: Handing the cake box to Mum
  • Cách 4: Nói "bánh"Way 4: Saying “cake”
  • Cách 5: Khóc và nhìn bánhWay 5: Crying and looking at the cake

Ý nghĩa của ví dụ này là: Con đạt được cùng một mục tiêu bằng nhiều "con đường" khác nhau.What this example means is this: your child reaches the same goal by many different “roads”.

Khi đọc đến đoạn này, bạn hãy lưu ý rằng, chức năng giao tiếp như là động cơ của chiếc xe, có động cơ thì chiếc xe có thể vận hành được. Còn hành vi giao tiếp như là nhiên liệu của xe. Mỗi một chiếc xe có thể hoạt động hiệu quả được thì cần cả nhiên liệu và động cơ, phải không nào…As you read this part, keep in mind that communicative function is like the engine of a car — with an engine, the car can run. Communicative behaviour is like the car’s fuel. For any car to run well it needs both the fuel and the engine, doesn’t it…

Do đó, khi dạy trẻ giao tiếp người ta thường sẽ bổ trợ cho trẻ những cách thức (hành vi) giao tiếp khác nhau, đồng thời dạy thêm cả những mục đích (chức năng) giao tiếp mới. Có như vậy, xe mới có thể chạy xa, bền bỉ và chạy được trong nhiều môi trường, hoàn cảnh. Vậy trẻ của bạn đang cần tập trung vào động cơ, hay là tập trung để nạp nhiên liệu, hay cả hai? Hãy cho mình biết nhé.That is why, when we teach a child to communicate, we usually build up different ways (behaviours) of communicating and, at the same time, teach new purposes (functions) for communicating. Only then can the car go far, keep going, and run in many different settings and situations. So does your child need to focus on the engine, or on filling up with fuel, or both? Do let me know.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles
Chuỗi: Chuỗi bài về chỉ tay · Bài 5 trong 5Series: The pointing series · Part 5 of 5

Bản đồ phát triển giao tiếp: con mình đang ở đâu?A map of communication development: where is my child right now?

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Bài trước, chúng ta đã hiểu được chỉ tay chỉ là một trong nhiều hành vi giao tiếp, và chúng ta đã được hỏi: con của bạn cần dạy về các hành vi giao tiếp, chức năng giao tiếp hay cả hai?In the last article we saw that pointing is only one of many communication behaviours, and we were left with a question: does your child need to be taught communication behaviours, communication functions, or both?

Nếu bạn bỏ lỡ 4 bài trước trong guide này, hãy tìm đọc nhaIf you missed the four earlier articles in this guide, do go back and read them.

Giờ đây, chúng ta sẽ đặt chỉ tay vào bản đồ giao tiếp - một công cụ giúp chúng ta nhìn thấy toàn bộ hành trình phát triển giao tiếp của con từ khi sinh ra đến khi có ngôn ngữ phức tạp. Công cụ này gọi là Ma trận giao tiếp. Ma trận giao tiếp (Communication Matrix) là công cụ do Charity Rowland phát triển để đánh giá giao tiếp ở trẻ chưa nói được. Nó chia phát triển giao tiếp thành 7 cấp độ rõ ràng.Now we are going to place pointing on the map of communication — a tool that lets us see the whole journey of a child's communication development, from birth through to complex language. The tool is called the Communication Matrix. It was developed by Charity Rowland to assess communication in children who are not yet speaking, and it divides communication development into seven clear levels.

Ma trận giao tiếp sẽ giúp:The Communication Matrix helps you:

  • Xác định con đang ở giai đoạn nào trong hành trình phát triểnIdentify which stage of the journey your child is at
  • Hiểu được chỉ tay xuất hiện ở mốc nào trên bản đồ nàyUnderstand where pointing appears on this map
  • Có kỳ vọng và chiến lược phù hợp với giai đoạn của conHold expectations and choose strategies that match the stage your child is actually in

7 cấp độ phát triển giao tiếp:The seven levels of communication development:

Cấp độ 1: Hành vi phản xạLevel 1: Pre-intentional behaviour

  • Con khóc khi đói, cười khi vuiYour child cries when hungry, smiles when happy
  • Chưa có ý thức giao tiếpNo communicative intent yet

Cấp độ 2: Hành vi có mục đích chungLevel 2: Intentional behaviour

  • Con kéo áo mẹ, đẩy tay mẹYour child pulls at your shirt, pushes your hand away
  • Bắt đầu có ý thức tác động lên người khácBeginning to act on other people on purpose

Cấp độ 3: Giao tiếp phi chính quyLevel 3: Unconventional communication

  • Con kéo tay mẹ đến tủ lạnh, nhìn luân phiênYour child pulls your hand to the fridge, looks back and forth between you and what he wants
  • Có ý định giao tiếp rõ ràng nhưng chưa dùng "ký hiệu" chính quyClear communicative intent, but not yet using conventional “symbols”

↑ Chỉ tay thường xuất hiện ở cấp độ 3-4 ↑↑ Pointing usually appears at levels 3–4 ↑

Cấp độ 4: Giao tiếp bằng cử chỉ chính quyLevel 4: Conventional gestural communication

  • Con chỉ tay, vẫy tay, gật đầuYour child points, waves, nods
  • Bắt đầu dùng các "ký hiệu" mà xã hội thừa nhậnBeginning to use “symbols” that everyone recognises

Cấp độ 5: Giao tiếp bằng ký hiệu trừu tượngLevel 5: Communication with abstract symbols

  • Con dùng hình ảnh, ngôn ngữ ký hiệu, hoặc từ ngữ đơn lẻYour child uses pictures, sign language, or single words
  • Hiểu rằng "ký hiệu" có thể đại diện cho sự vậtUnderstands that a “symbol” can stand for a thing

Cấp độ 6-7: Ngôn ngữ phức tạpLevels 6–7: Complex language

  • Con nói câu, có ngữ pháp, diễn đạt ý tưởng phức tạpYour child speaks in sentences, uses grammar, expresses complex ideas

Xác định con đang ở cấp độ nào:Working out which level your child is at:

Cấp độ 1-2: Con chưa có ý định giao tiếp rõ ràngLevels 1–2: your child does not yet have clear communicative intent

  • Tập trung: Tương tác cơ bản, respond to con's needsFocus on: basic interaction, responding to your child's needs
  • Chưa cần dạy chỉ tay - chưa đến lúcNo need to teach pointing yet — it isn't time

Cấp độ 3: Con đã có ý định giao tiếp nhưng phi chính quyLevel 3: your child has communicative intent, but it is unconventional

  • Con đã sẵn sàng học chỉ tay! Đây là thời điểm tốt.Your child is ready to learn pointing! This is a good moment.
  • Chiến lược: Dạy chỉ tay để "nâng cấp" từ kéo tay thành cử chỉ chính quyStrategy: teach pointing as an “upgrade” from pulling your hand to a conventional gesture
  • Đầu tư vào chỉ tay có giá trị cao nhấtThis is where investing in pointing is worth the most

Cấp độ 4: Con đã có một số cử chỉ chính quyLevel 4: your child already has some conventional gestures

  • Chiến lược: Mở rộng "vốn từ vựng" cử chỉStrategy: widen his “vocabulary” of gestures
  • Không cần ép chỉ tay nếu con đã giao tiếp hiệu quảNo need to push pointing if your child is already communicating effectively

Cấp độ 5+: Con có ngôn ngữ hoặc ký hiệu trừu tượngLevel 5 and above: your child has language or abstract symbols

  • Chỉ tay không còn là ưu tiênPointing is no longer the priority
  • Tập trung: Phát triển ngôn ngữ phức tạp hơnFocus on: developing more complex language

Ví dụ thực tế:A real example:

Bé An (2.5 tuổi) - Cấp độ 3:An (2.5 years old) — Level 3:

  • Kéo tay mẹ đến tủ lạnh khi khátPulls his mother's hand to the fridge when he is thirsty
  • Nhìn luân phiên giữa đồ chơi và mẹ khi muốn chơiLooks back and forth between the toy and his mother when he wants to play

Đây là thời điểm tuyệt vời để dạy chỉ tay!This is a wonderful moment to teach pointing!

Bé Minh (3 tuổi) - Cấp độ 4:Minh (3 years old) — Level 4:

  • Đã biết chỉ tay, vẫy tay, gật đầuAlready points, waves and nods
  • Giao tiếp hiệu quả với gia đìnhCommunicates effectively with his family
  • → Không cần lo lắng về chỉ tay, tập trung vào mở rộng kỹ năng→ No need to worry about pointing; focus on widening his skills

Nếu bạn gặp khó khăn để xác định mức độ của con, hãy nhờ một nhà chuyên môn có kinh nghiệm hỗ trợ bạn nhé.If you find it hard to work out which level your child is at, do ask an experienced professional to help you.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles

Cường độ can thiệp: bao nhiêu giờ một tuần là đủ?Intensity of intervention: how many hours a week is enough?

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Mặc dù tiêu chí chẩn đoán tự kỷ đã thay đổi nhưng những nghiên cứu về cường độ can thiệp vẫn còn có ý nghĩa. Ở đây mình giữ nguyên tiếng Anh mà không chuyển việc phân loại tự kỷ theo tiếng Việt, vì việc chuyển ngữ không dễ dàng và dễ gây tranh luận. Nếu học sinh của bạn hoặc con của bạn được chẩn đoán có rối loạn phát triển, bạn hãy hỏi xem mức độ của con như thế nào, từ đó hãy tìm cách tiếp cận, chương trình và phương pháp phù hợp nhé. Hiện tại trong tiêu chí chẩn đoán mới thì tự kỷ được chia thành 3 cấp độ, tạm hiểu là nhẹ-vừa-nặng. Nhưng trong bài viết này, mình phân tích dựa trên tài liệu về các phương pháp tiếp cận dành cho tự kỷ, được tác giả viết trước giai đoạn tiêu chí chẩn đoán thay đổi năm 2013 nên bạn sẽ thấy có nhiều đối tượng được xếp ở cột dọc của biểu đồ.Even though the diagnostic criteria for autism have changed, the research on intensity of intervention still matters. Here I have kept the English terms rather than putting the autism categories into Vietnamese, because they do not translate easily and the wording invites argument. If your student or your child has been diagnosed with a developmental disorder, ask what level they are at, and from there look for the approach, the programme and the methods that fit. Under the current diagnostic criteria, autism is divided into three levels, which you can read roughly as mild, moderate and severe. But in this article I am working from material on approaches to autism that the author wrote before the criteria changed in 2013, so you will see several different groups set out down the vertical axis of the chart.

1) Mức độ khó khăn của trẻ là cột dọc: Tự kỷ ở dạng phức tạp (complex autism) là nhóm khó khăn nhất. Những bé ở mức độ này có thể ngoài những khó khăn cốt lõi của tự kỷ thì còn những khó khăn khác đi kèm, như có những rối loạn giác quan nặng, rối loạn giấc ngủ, đường ruột, khuyết tật trí tuệ…. Những bé có khó khăn này thì cần thời lượng trị liệu nhiều hơn cả, và khả năng phát triển tiệm cận với vùng phát triển thông thường của trẻ em là xa. Thông thường, các em sẽ cần đến 30-40h can thiệp một tuần.1) The child's level of difficulty is the vertical axis: complex autism is the group with the most difficulty. Alongside the core difficulties of autism, children at this level may have other difficulties as well, such as severe sensory processing difficulties, sleep problems, gut problems, intellectual disability, and so on. These children need the most therapy hours of all, and the distance between them and the typical range of child development is wide. They will usually need 30–40 hours of intervention a week.

  1. Đối với các em ở mức Essential Autism (tạm dịch là có đầy đủ khó khăn cốt lõi, điển hình của tự kỷ) thì cũng cần có can thiệp từ 16-19h/tuần. Công thức dạy cho các em theo phương pháp tổng hợp là 75% học tập theo cấu trúc, dạy theo DTT và sau đó 25% học theo phương pháp tiếp cận tự nhiên.Children at the Essential Autism level (roughly, children who have the full set of core difficulties typical of autism) also need 16–19 hours of intervention a week. The formula for teaching them under a combined approach is 75% structured learning, taught through DTT, and then 25% learning through a naturalistic approach
  2. Các đối tượng còn lại thì cường độ can thiệp dần dần giảm xuống còn 10-15h/tuần, 6-9h/tuầnFor the remaining groups the intensity of intervention drops gradually to 10–15 hours a week, then 6–9 hours a week

Một số thông tin nữa về cường độ can thiệp mình muốn chia sẻ thêm làThere are a few more things about intensity of intervention that I want to share

  • Thời lượng: 25-30 h/tuần, can thiệp 1-1 trong 1-2 năm đầu là bắt buộc để có được những cải thiện về những khiếm khuyết cốt lõi của tự kỷ. (Lord & McGee, 2001)Duration: 25–30 hours a week of one-to-one intervention in the first one to two years is essential if there are to be improvements in the core deficits of autism. (Lord & McGee, 2001)

Một số cha mẹ thích bắt đầu bằng 10-20 h trị liệu/tuần sau đó tăng dần thời lượng sau khi trẻ có được những thành tựu được cho là hướng đi không phù hợp. Một yếu tố cực kỳ quan trọng cần ghim trong đầu là những kỹ năng nhận thức, ngôn ngữ, kỹ năng xã hội chủ chốt được phát triển trong 18 tháng can thiệp đầu tiên. Việc tăng cường thời gian can thiệp sau 1-2 năm không thể bù lại được với tốc độ học và sự phát triển của não bộ trong những giai đoạn trước đó.Some parents prefer to start with 10–20 hours of therapy a week and then increase the hours once the child has made some gains, and this is considered the wrong direction to take. One thing that is extremely important to pin in your mind is that the key cognitive, language and social skills are developed during the first 18 months of intervention. Increasing the intervention hours after one or two years cannot make up for the rate of learning and brain development in those earlier stages.

  • Không phải chỉ có ABA mới tăng cường, ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng các phương pháp can thiệp khác cũng cần rất nhiều thời gian đầu tư cho nó. Dưới đây là ví dụ về thời lượng của các chương trình khác nhau.ABA is not the only approach that is intensive. We can see, for example, that other intervention methods also call for a great deal of time invested in them. Below are examples of the hours required by different programmes
  • ABA:ABA:
  • Thấp: 15 h/tuầnLow: 15 hours a week
  • Ít nhất: 30-35h/tuầnAt minimum: 30–35 hours a week
  • RDI: huấn luyện 2lần/tuần, mỗi lần vài giờRDI: training twice a week, a few hours each time
  • PRT và Floortime: 25h/tuầnPRT and Floortime: 25 hours a week
  • TEACCH: 6h/ngàyTEACCH: 6 hours a day
  • SCERTS: 6h/ngàySCERTS: 6 hours a day
  • Nghiên cứu của hội đồng Quốc gia 2001 tại Mỹ trả lời thế nào là can thiệp tăng cường và toàn diệnThe 2001 National Council study in the United States answers the question of what intensive, comprehensive intervention actually is
  1. Can thiệp sớm 1,5-5 năm tuổiEarly intervention between 1.5 and 5 years of age
  2. 25h/tuần can thiệp trực tiếp25 hours a week of direct intervention
  3. Có tính tương tácInteractive
  4. Cá nhân hoá (1:1 hoặc 1:2)Individualised (1:1 or 1:2)
  5. Toàn diện (bao gồm hết những kỹ năng thiếu hụt ngôn ngữ, kỹ năng xã hội, giác quan)Comprehensive (covering every area of delay: language, social skills, sensory)
  6. Có chiến lượcGuided by a strategy

Mục tiêu cuối cùng: Trẻ phải tự lập và có phản hồi mang tính xã hội.The ultimate goal: the child must be independent and must respond socially.

=> Do đó, không phải trẻ em tự kỷ nào cũng phù hợp với mô hình can thiệp 1-1 hay 1 h/ngày. Để biết được con cần can thiệp bao nhiêu h/tuần. Các cô giáo cần quan sát các con thật kỹ, có bảng hỏi cụ thể để tìm ra các chỉ số can thiệp cần thiết cho con. Còn các ba mẹ, chắc chắn cần người có chuyên môn tốt để tư vấn chương trình.So not every autistic child is suited to a one-to-one model or to one hour a day. To know how many hours a week a child needs, teachers have to observe the child very closely and use a specific questionnaire to work out the intervention indicators that child needs. And parents certainly need someone with real professional expertise to advise them on the programme.

Một số người hiểu nhầm rằng chỉ cần can thiệp đủ giờ là đủ, nên việc gửi con ở một vài chương trình, trong đó con được giữ cả ngày nhưng chỉ có 1h/ngày can thiệp cá nhân chẳng hạn. Thì thời lượng này chưa đảm bảo chất lượng của tăng cường nhà các mẹ và các cô. Một chương trình phải đảm bảo đủ giờ và can thiệp đủ chất, đủ nhiều, đủ độ và phù hợp với con về phương pháp tiếp cận mới được gọi là chương trình can thiệp tăng cường hiệu quả. ở Việt nam thì việc đảm bảo đầy đủ tất cả các yếu tố trên là thách thức, thêm vào đó, không phải cha mẹ nào cũng có khả năng chi trả cho 30h can thiệp cá nhân/tuần. Do đó, việc thiết kế một chương trình can thiệp phù hợp là cần thiết cho mỗi trung tâm của chúng ta. Bên cạnh đó, hướng dẫn, huấn luyện và hỗ trợ phụ huynh chính là phương thức tiết kiệm, hiệu quả và lâu bền nhất vì những kỹ năng can thiệp họ có thể làm được, chỉ cần họ kiên trì. Do vậy, một chương trình can thiệp tốt, sẽ được đánh giá về cấp độ chương trình đó hỗ trợ phụ huynh được đến như thế nào.Some people misunderstand and think that enough hours is enough in itself, so they place their child in programmes where the child is looked after all day but receives, say, only one hour a day of individual intervention. That amount of time does not guarantee the quality of intensive intervention, mums and teachers. A programme is only called an effective intensive intervention programme when it has enough hours and the intervention is of enough quality, enough in quantity, enough in depth, and matched to the child in its approach. In Vietnam, making sure all of those factors are in place is a challenge, and on top of that not every parent can afford 30 hours of individual intervention a week. So designing an intervention programme that fits is necessary for every one of our centres. Alongside that, guiding, training and supporting parents is the most economical, the most effective and the most lasting method of all, because these are intervention skills parents can carry out themselves; they only need to persevere. A good intervention programme will therefore be judged by how far it supports parents.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.
Tất cả bài viếtAll articles

Tám hệ giác quan của conYour child's eight sensory systems

Nguyễn Thị Nha Trang · Người sáng lập và Giám đốc Trung tâm ANNguyen Thi Nha Trang · Founder and Director, AN Center

Thị giácVision

Hệ thị giác là nơi chúng ta tiếp nhận và và xử lý những thông tin thông qua mắt. Chúng ta có thể nhìn vào một vật là nhờ ánh sáng. Các tia sáng đi vào trong mắt của chúng ta theo các con đường khác nhau dựa vào cấu trúc của mắt, cuối cùng, hình ảnh của vật thể được thể hiện trong vùng não chịu trách nhiệm về thị giác. Ở đây, não xác định đó là đồ vật gì và ý nghĩa của nó. Chúng ta có khả năng nhận thức về các chi tiết như màu sắc, không gian 3 chiều, chiều sâu và vị trí của đồ vật trong không gian.The visual system is where we take in and process information through the eyes. We can see an object thanks to light. Light rays enter the eye along different paths determined by the structure of the eye, and in the end the image of the object appears in the area of the brain responsible for vision. There the brain works out what the object is and what it means. We are able to perceive details such as colour, three-dimensional space, depth, and where an object sits in space.

Có những trẻ sẽ rất nhạy cảm về thị giác như không thích, lảng tránh ánh sáng mặt trời hoặc đèn sáng, không thích những nơi có quá nhiều ánh sáng như của hàng, sân chơi.. Hay là thích ánh sáng mờ, bóng râm... Bên cạnh đó lại có những bạn lại đi tìm kiếm cảm giác thị giác : thích những đồ vật sáng bóng hoặc di chuyển, thích những chương trình hành động, giải trí trên tivi hoặc là những trò chơi điện tử. Những bạn này thường sẽ gặp khó khăn trong việc phối hợp tay mắt ( các hoạt động bắt bóng, xâu hạt, viết, tô màu…) khó khăn trong việc phân biệt giữa từ ngữ và hình dạng gần giống nhau, khó khăn trong việc đọc, có thể bị mất dòng khi đọc.Some children are very sensitive to visual input: they dislike and avoid sunlight or bright lamps, they dislike places with too much light such as shops or playgrounds, or they prefer dim light and shade. Other children go looking for visual input: they like shiny or moving objects, action and entertainment programmes on television, or video games. These children often have difficulty with hand-eye coordination (catching a ball, threading beads, writing, colouring), difficulty telling apart words and shapes that look similar, difficulty reading, and they may lose their place on the line while reading.

Việc bạn xác định được ngưỡng thị giác của con sẽ giúp ích rất nhiều trong hoạt động vui chơi cũng như học tập của trẻ. Ví dụ nếu con bạn nhạy cảm về thị giác thì bạn cần phải có những lựa chọn màu sắc phù hợp (màu xanh lá, xanh lam... là những màu sắc tốt cho mắt tuy nhiên hãy lựa chọn màu sắc con bạn thấy dễ chịu). Bên cạnh đó nếu đứa trẻ có vẻ như luôn tìm cảm giác kích thích thị giác hãy thêm các vật thể có màu sắc rực rỡ để khuyến khích sự chú ý trực quan. Ví dụ, một đứa trẻ gặp khó khăn khi khi đọc bạn có thể dùng những màu sắc nổi bật hơn cho chữ để trẻ có thể dễ nhìn thấy hoặc khi trẻ không thể xem một quả bóng khi nó lăn thì bạn làm cách nào đó cho quả bóng sáng lên như vậy sẽ giúp cho thị giác của trẻ rất nhiều.Working out your child's visual threshold will help a great deal in both play and learning. For example, if your child is sensitive to visual input, you need to choose suitable colours (green and blue are easy on the eyes, but choose the colours your own child finds comfortable). On the other hand, if your child always seems to be seeking visual stimulation, add brightly coloured objects to encourage visual attention. For example, for a child who struggles with reading you can use a stronger colour for the letters so they are easier to see; and if your child cannot track a ball as it rolls, find a way to make the ball light up — that will help their vision a great deal.

Việc trẻ gặp rối loạn giác quan thị giác đôi khi làm ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt thường ngày của trẻ. Một số gợi ý cho việc sắp xếp môi trường cho trẻ:Visual processing difficulties sometimes affect a child's daily life directly. Here are some suggestions for arranging the environment for your child:

  • Bạn cần sắp xếp một môi trường gọn gàng cho con bạn, nên lựa chọn những chiếc rèm cửa đơn giản, màu sắc nhẹ nhàng. Với những căn phòng mà trẻ dành nhiều thời gian, hãy cố gắng sử dụng những tấm thảm có màu đặc thay vì những tấm có hoa văn. Tường màu trung tính hoặc mềm mại ít kích thích hơn so với giấy dán tường có hoa văn màu đậm.Arrange a tidy environment for your child. Choose simple curtains in soft colours. In the rooms where your child spends a lot of time, try to use rugs in a solid colour rather than patterned ones. Neutral or soft-coloured walls are less stimulating than wallpaper with a bold pattern
  • Vị trí ngồi: Có những trẻ bạn cần phải cho con ngồi bàn đầu tránh cửa sổ để tránh những phân tâm gây ảnh hưởng tới việc học. Tuy nhiên có những bạn nhỏ sẽ rất thích thú việc quan sát những gì những đứa trẻ khác đang làm trong lớp lúc này bạn nên cân nhắc việc cho con ngồi phía dưới để con đảm bảo không bị liên tục quay xuống bàn dưới để nhìn bạn.Seating: some children need to sit in the front row, away from the window, to avoid distractions that affect their learning. Other children are very interested in watching what the other children in the class are doing, and for them you should consider a seat further back so that they are not constantly turning around to look at the children behind them
  • Màu sắc: Tránh đồ chơi, quần áo, khăn tắm, v.v., trong những màu sắc mà con bạn thấy khó chịu.Colour: avoid toys, clothes, towels and so on in colours your child finds uncomfortable

Hãy nhớ rằng việc mọi người nhạy cảm hay tìm kiếm cảm giác là điều bình thường. Rối loạn điều chỉnh cảm giác chỉ trở thành một rối loạn khi nó tác động tiêu cực đến cuộc sống của một người (tức là khả năng chú ý, học hỏi, giao tiếp, thư giãn). Hãy giúp con bạn bằng cách cung cấp đầu vào và làm dịu giác quan thị giác theo nhu cầu của con.Remember that it is normal for people to be sensitive to input or to seek it out. Sensory modulation difficulties only become a disorder when they have a negative impact on a person's life (that is, on their ability to pay attention, to learn, to communicate, to relax). Help your child by giving the visual system the input it needs and by calming it according to your child's needs.

Nguồn: shorturl.at/kopPRSource: shorturl.at/kopPR

Khứu giácSmell

Hệ khứu giác là nơi tiếp nhận thông tin về mùi xung quanh chúng ta và chuyển các thông tin đó lên hệ thần kinh trung ương để xử lý thông tin. Hệ khứu giác của chúng ta có thể phân biệt được hàng ngàn mùi khác nhau và giúp chúng ta nhận diện ra đâu là mùi có thể gây nguy hiểm, sợ hãi, mùi mạnh, mùi nhẹ, và mùi cho cảm giác thoải mái. Nhiều trẻ có xu hướng thích ngửi các mùi mạnh để có sự tỉnh táo, tập trung và hành vi tích cực hơn. Bên cạnh đấy có những bạn nhỏ rất nhạy cảm với mùi. Khám phá mùi hương với con bạn để tìm ra mùi hương phù hợp nhất với mục tiêu của bạn và nhu cầu của trẻ. Nếu để xoa dịu bé hoặc đánh thức bé dậy mình có thể sử dụng một số mùi hương nhẹ nhàng: mùi hương vani, oải hương và hoa hồng thường làm dịu. Nếu bạn muốn con bạn tỉnh táo tập trung hơn và cung cấp đầu vào cho khứu giác đang tìm kiếm cảm giác của con bạn có lẽ bạc hà, tranh, cam quýt ... sẽ là gợi ý tốt. ------ Một số ý tưởng giúp bạn cung cấp đầu vào và làm dịu khứu giác cho trẻ: - Trồng một vườn cây có mùi hương: trồng những cây có mùi hương giúp tỉnh táo hoặc thư giãn ở sân sau hoặc trong bếp. Trồng các chậu cây hoa oải hương, hương thảo và các loại thảo mộc khác cho trẻ lựa chọn, ngửi và khám phá - Chiếc hộp khứu giác: thêm que quế, một vài giọt dầu thơm hoặc tinh dầu vào thùng đầy gạo khô hoặc đậu sau đó hãy cùng con bạn khám phá các mùi hương nhé - Gối sưởi từ gạo thơm: dùng vải chắc chắn, may một túi hình chữ nhật và đổ đầy gạo khô. Thêm một vài giọt dầu thơm có mùi hương giúp tỉnh táo hoặc làm dịu giác quan. Trước khi dùng, làm nóng nó trong lò vi sóng vài giây; hơi ấm sẽ giải phóng mùi hương. - Kem dưỡng ẩm: có sẵn một vài loại kem dưỡng da tay có mùi thơm khác nhau có thể dùng khi con bạn cần tăng năng lượng, sự tỉnh táo như: bạc hà hoặc cam quýt hoặc khi bé cần bình tĩnh (vani hoặc hoa oải hương) - Một số ý tưởng khác: Cho trẻ tô màu hoặc vẽ bằng bút đánh dấu có mùi hương giúp làm dịu hoặc có mùi theo nhu cầu và sở thích của trẻ. Tự làm đất nặn tại nhà bằng cách trộn bột và tinh dầu, dầu thơm. Việc cho trẻ tham gia làm bếp giúp chúng tiếp xúc với nhiều loại mùi là hoạt động cung cấp và làm dịu khứu giác rất tốt. Nguồn: https://www.sensorysmarts.com/sensory_diet_activities.htmlThe olfactory system takes in information about the smells around us and passes that information to the central nervous system to be processed. Our olfactory system can tell thousands of different smells apart and helps us recognise which smells may mean danger or fear, which are strong, which are faint, and which feel comforting. Many children tend to like strong smells because they help them feel alert and focused and behave more positively. Other children are very sensitive to smell. Explore scents together with your child to find the ones that best suit your goal and your child's needs. To soothe your child or to wake them up, you can use gentle scents: vanilla, lavender and rose are usually calming. If you want your child to be more alert and focused, and to give input to a child who is seeking smell, peppermint, lemon and citrus are probably good suggestions. ------ Some ideas for giving your child olfactory input and for calming that sense: - Plant a scented garden: plant things that smell alerting or relaxing in the back yard or in the kitchen. Put in pots of lavender, rosemary and other herbs for your child to choose from, smell and explore - A smell box: add cinnamon sticks, a few drops of fragrance oil or essential oil to a container full of dry rice or beans, then explore the scents together with your child - A scented rice heat pillow: using sturdy fabric, sew a rectangular bag and fill it with dry rice. Add a few drops of fragrance oil with an alerting or calming scent. Before use, warm it in the microwave for a few seconds; the warmth releases the scent. - Hand lotion: keep a few different scented hand creams on hand, to use when your child needs more energy and alertness (peppermint or citrus) or when they need to calm down (vanilla or lavender) - Some other ideas: let your child colour or draw with scented markers, with calming scents or with whatever scent suits their needs and likes. Make play dough at home by mixing flour with essential oil or fragrance oil. Bringing your child into the kitchen to cook with you exposes them to many different smells and is a very good activity for giving olfactory input and for calming that sense. Source: https://www.sensorysmarts.com/sensory_diet_activities.html

Tiền đìnhThe vestibular system

Tiền đình là một hệ thống thuộc hệ thần kinh nằm ở phía sau ốc tai (hai bên) có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng duy trì tư thế, dáng, phối hợp với cử động của mắt, đầu và thân mình. Tiền đình có chức năng chính là giữ thăng bằng cho cơ thể. Khi cơ thể di chuyển, khi cúi, xoay… hệ thống tiền đình cũng sẽ nghiêng lắc theo các động tác của cơ thể, từ đó giúp cho cơ thể có tư thế thăng bằng. Có những trẻ rất thích được đưa lên cao, thích được di chuyển nhiều, thích chơi xe đẩy, xích đu, thích các hoạt động chuyển động, vận động nhiều, thích đu người lên, thích xoay tròn, cảm giác mạnh, thích đung đưa, rung lắc từ trước về sau... Đó là những biểu hiện bạn nhỏ đang tìm kiếm thêm cảm giác về tiền đình. Tuy nhiên bên cạnh đó có những bạn lại quá nhạy cảm ví dụ: sợ độ cao, tránh xích đu, cầu trượt, bất cứ thứ gì quay tròn, con sợ khi chân không chạm đất, dễ bị chóng mặt và say... Hãy cung cấp đủ đầu vào cho tiền đình của bé thông qua các trò chơi: Chơi các trò lái máy bay, ô tô ở sân chơi, tàu lượn, xích đu... ở sân chơi. Lăn tròn trên thảm cỏ trong các cuộc dã ngoại, đi bơi cùng nhau vào mỗi buổi chiều hè hay đơn giản là cho con tập đứng trên một chiếc ghế cao, để con nằm trên tay bố và chơi trò tàu bay, ngồi trên chiếc xe đẩy trong siêu thị và cùng nhau đi mua sắm nào... Có rất nhiều trò chơi có thể thông qua đó cung cấp đầu vào cho các bạn nhỏ đang cố gắng tìm kiếm cảm giác bên cạnh đó giúp các bạn nhỏ quá nhạy cảm tập quen dần để có hệ tiền đình ổn định. Lưu ý: Đối với các bạn nhỏ quá nhạy cảm bố mẹ lưu ý cung cấp từ từ theo nhu cầu của bé không ép buộc trẻ làm điều con sợ. Hãy biến nối sợ của con thành điều tuyệt vời thông qua các trò chơi... Nguồn: https://bit.ly/2wieJkbThe vestibular system is part of the nervous system, sitting behind the cochlea on both sides, and it plays an important role in maintaining posture and carriage and in coordinating the movements of the eyes, the head and the trunk. Its main function is to keep the body balanced. When the body moves, bends or turns, the vestibular system tilts and shifts along with those movements, which helps the body hold a balanced position. Some children love being lifted up high, love moving a lot, love pushchairs and swings, love activities with movement and plenty of physical action, love hanging and swinging from things, love spinning, strong sensations, rocking, and being shaken back and forth. These are signs that the child is looking for more vestibular input. Other children, though, are over-responsive: they are afraid of heights, they avoid swings, slides and anything that spins, they are afraid when their feet leave the ground, they get dizzy and carsick easily. Give your child enough vestibular input through play: play aeroplanes and cars, go on the roller coaster and the swings at the playground. Roll on the grass on a picnic, go swimming together on summer afternoons, or simply let your child practise standing on a high chair, lie your child along dad's arms and play aeroplane, sit them in the trolley at the supermarket and go shopping together. There are a great many games that can give input to children who are trying to seek sensation, and that also help over-responsive children get used to things gradually so that their vestibular system settles. A note: for over-responsive children, parents should give the input slowly, according to the child's needs, and never force a child to do something they are afraid of. Turn your child's fear into something wonderful through play. Source: https://bit.ly/2wieJkb

Giác quan vùng miệngThe oral sensory system

Quá trình xử lý cảm giác vùng miệng là cách não bộ của chúng ta tiếp nhận những thông tin thông qua miệng và hàm. Khi chúng ta ăn hoặc uống, miệng sẽ gửi thông tin lên não những thứ chúng ta ăn hoặc uống. Những thông tin này bao gồm nhiệt độ, chất liệu, và vị của đồ ăn. Não của chúng ta cũng nhận được những thông tin về cảm nhận bản thể khi hàm của chúng ta cắn và nhai. Những đầu vào giác quan vùng miệng có thể ảnh hưởng tới mức độ tỉnh táo của đứa trẻ; chúng thậm chí còn có khả năng thay đổi hành vi của trẻ, khiến trẻ trở nên bình tĩnh và có phản ứng phù hợp hơn ------- I/ Hoạt động cung cấp đầu vào giác quan vùng miệng giúp thúc đẩy nhận thức và tăng sự tập trung chú ý Một số gợi ý bố mẹ có thể chơi ở nhà giúp cung cấp đầu vào cho giác quan vùng miệng của trẻ: - Chơi với bàn chải rung trên má, môi… - Chơi trò tạo âm thanh từ miệng: zzzz như một con ong, nhấp lưỡi, ngân nga, hoặc thổi... - Chơi trò chơi tạo các khuôn mặt khác nhau trong gương hoặc bắt chước khuôn mặt hài hước của người khác như: mở miệng rộng, lè lưỡi, mỉm cười, cau mày, phồng má… - Ăn đồ ăn giòn như: táo, khoai tây chiên, bánh quy, bỏng ngô, rau sống, bánh mì nướng... - Ăn đồ ăn có vị chua / ngọt: sâu gummy chua, bưởi, cam, hoặc nước chanh - Ăn đồ ăn mặn như: khoai tây chiên, bánh quy hoặc các loại hạt - Ăn vặt với thức ăn lạnh như: đá bào, kem, hoặc nho đông lạnh... - Thử đồ ăn với hương vị mạnh: kẹo cay, đồ uống có ga…. -------- II/Các hoạt động làm dịu giác quan vùng miệng có thể giúp thư giãn cơ thể để trẻ có thể điều tiết hành vi học tập và các công việc hàng ngày khác Một số gợi ý hoạt động làm dịu giác quan vùng miệng: - Hút dung dịch đặc qua ống hút: các loại sinh tố hoặc bánh pudding; caramel; sữa chua - Uống nước bằng ống hút hoặc từ một lỗ nhỏ đòi hỏi phải mút - Nhai miếng nhai - Nhai kẹo cao su, nhai thức ăn, kẹo dẻo, cam thảo, trái cây khô... - Thổi bong bóng, bóng bay; thổi còi hoặc nhạc cụ - Hít sâu và thở ra từ từ - Hát, ngân nga - tạo âm trong cổ họng Nguồn: https://bit.ly/2wieJkbOral sensory processing is how our brain takes in information through the mouth and jaw. When we eat or drink, the mouth sends the brain information about what we are eating or drinking. That information includes the temperature, the texture and the taste of the food. Our brain also receives proprioceptive information as our jaw bites and chews. Oral sensory input can affect a child's level of alertness; it can even change a child's behaviour, helping them become calmer and respond more appropriately. ------- I/ Activities that give oral sensory input to promote awareness and increase attention and focus. Some suggestions parents can play at home to give a child oral sensory input: - Play with a vibrating brush on the cheeks, the lips and so on - Play at making sounds with the mouth: zzzz like a bee, clicking the tongue, humming, or blowing - Play at making different faces in the mirror, or copying someone else's funny face: open the mouth wide, stick out the tongue, smile, frown, puff out the cheeks - Eat crunchy food: apple, crisps, biscuits, popcorn, raw vegetables, toast - Eat sour or sweet food: sour gummy worms, pomelo, orange, or lemonade - Eat salty food: crisps, crackers or nuts - Snack on cold food: shaved ice, ice cream, or frozen grapes - Try food with strong flavours: spicy sweets, fizzy drinks -------- II/ Activities that calm the oral sensory system can help relax the body so that the child can regulate themselves for learning and for other everyday tasks. Some suggestions for calming oral sensory activities: - Suck thick liquids through a straw: smoothies or pudding; caramel; yoghurt - Drink water through a straw, or from a small opening that requires sucking - Chew on a chew - Chew gum, chewy food, soft sweets, liquorice, dried fruit - Blow bubbles and balloons; blow a whistle or an instrument - Breathe in deeply and breathe out slowly - Sing, hum, make sounds in the throat. Source: https://bit.ly/2wieJkb

Thính giácHearing

  • Hệ Thính giác giúp chúng ta tiếp nhận và xử lý những thông tin về âm thanh. Khi chúng ta nghe âm thanh, tín hiệu sẽ được truyền lên não và được xử lý tại đó; não bộ sẽ ra những hiệu lệnh để cơ thể phản ứng với âm thanh được nghe. Hệ thính giác ngoài việc giúp chúng ta phân biệt được các âm thanh khác nhau, giải mã những thông tin đó thì hệ giác quan này còn có chức năng giúp bảo vệ cơ thể. Ví dụ, khi nghe thấy âm thanh của sự nguy hiểm, con người sẽ ngay lập tức có phản ứng phòng vệ, chạy trốn hoặc tránh. Do đó, nó là một hệ giác quan rất quan trọng của con người. - Một số biểu hiện rối loạn thính giác: Một vài trẻ khó chịu với những âm thanh ồn ào, đôi khi có thể giật mình bởi tiếng máy sấy tóc, bịt tai... bên cạnh đó có những bạn không có phản ứng với tiếng động lớn, bật to âm thanh ti vi, một số trẻ thì gặp khó khăn trong việc xác định âm thanh. II/ Có một số cách chơi khác nhau giúp làm dịu trẻ nhỏ bằng âm nhạc. 1. Ngoài những bài nhạc nhẹ không lời mọi người thường sử dụng chúng ta có thể cho con của bạn nghe những âm thanh tự nhiên xung quanh. "Hãy cho trẻ được đi ra ngoài bãi biển nghe tiếng gió thổi, hoặc đôi khi ngồi để lắng nghe âm thanh của trời mưa. 2. Sử dụng những bản ghi âm tự nhiên: Bạn hãy ghi âm lại những âm thanh tự nhiên "tiếng chim hót, tiếng sáo, mưa rơi, sóng biển..." và sử dụng nó với con bạn. Đôi khi những âm thanh tự nhiên sẽ giúp cho bạn nhỏ có thể ngủ ngon hơn. 3. Chơi trò chơi lắng nghe: Bạn có thể tạo ra một số âm thanh (tiếng xe cộ, tiếng tủ lạnh, tiếng bóng nổ,...) và cùng với con bạn tìm xem nó là tiếng gì và phát ra từ đâu. 4. Sử dụng nhạc cụ: Cho con bạn một loại nhạc cụ, khuyến khích bé chơi và có thể học trong điều kiện bé muốn. III/ Đối với một số trẻ quá nhạy cảm với âm thanh bạn cần cho con tập làm quen với những âm thanh ồn xung quanh. Việc bạn thông báo trước, dự báo cho con bạn là điều sẽ rất hiệu quả. Khi sử dụng âm nhạc với trẻ bạn phải thử với trẻ trước, đôi khi cũng cần sự nhạy cảm vì cảm nhận âm nhạc ở mỗi người rất khác nhau. Đôi khi một bài hát nhẹ nhàng tuyệt vời với bạn nhưng nó lại là những âm thanh khiến trẻ khó chịu. Hãy giúp con bạn cải thiện thính giác bằng nhiều cách nhưng hãy tôn trọng sự lựa chon của trẻ. Khi cho trẻ tiếp xúc với âm thanh, chúng ta hay nhớ công thức sau: Từng ít một-Tăng dần đều-Thường xuyên. Điều này có nghĩa là: khi cho nghe một loại âm thanh mới, hãy cho nghe nhỏ, rồi tăng to dần, và mỗi ngày nghe một chút, một chút, thường xuyên. Cách này sẽ giúp con học cách thích nghi với âm thanh từ từ. Nguồn: https://bit.ly/2WHGcpZThe auditory system helps us take in and process information about sound. When we hear a sound, the signal travels to the brain and is processed there; the brain then gives the commands for the body to respond to the sound it has heard. Besides helping us tell different sounds apart and decode that information, the auditory system also has a protective function. For example, when we hear the sound of danger, we immediately react defensively, running away or avoiding it. That makes it a very important sensory system for us. - Some signs of auditory processing difficulties: some children are uncomfortable with noisy sounds and may be startled by a hairdryer, and cover their ears; others do not react to loud noise at all and turn the television up very loud; and some children have difficulty locating where a sound is coming from. II/ There are several different ways of playing that use music to calm a young child. 1. Besides the soft instrumental music people usually use, we can let our child listen to the natural sounds around them. Take your child out to the beach to listen to the wind blowing, or sometimes sit and listen to the sound of the rain. 2. Use natural recordings: record natural sounds — birdsong, a flute, falling rain, waves on the sea — and use them with your child. Sometimes natural sounds help a child sleep better. 3. Play listening games: you can make a few sounds (traffic, the fridge, a balloon popping) and work out together with your child what the sound is and where it comes from. 4. Use instruments: give your child an instrument, encourage them to play it, and let them learn it if they want to. III/ For children who are over-responsive to sound, you need to help them get used to the noisy sounds around them. Telling your child in advance, so they know what is coming, is very effective. When you use music with your child, you have to try it out with them first, and you also need to be sensitive at times, because the way each person experiences music is very different. Sometimes a song that is wonderfully gentle to you is a sound your child finds uncomfortable. Help your child improve their hearing in many ways, but respect the choices they make. When we introduce a child to sound, let us remember this formula: a little at a time — increase gradually — do it often. This means that when you introduce a new kind of sound, play it quietly, then raise the volume gradually, and listen for a little while each day, again and again. This way your child learns to adapt to the sound slowly. Source: https://bit.ly/2WHGcpZ

Cảm nhận bản thểProprioception

Cảm nhận bản thể là những tác động đến cơ và khớp... ví dụ: ấn, kéo, đẩy, ôm xiết, mang vác vật nặng... Một số biểu hiện cơ bản ở trẻ thể hiện việc khó khăn trong việc cảm nhận bản thể: thích ôm ghì ôm chặt, hay ngồi các không gian hẹp. Làm thế nào để cung cấp đủ cảm nhận bản thể khi con bạn chỉ muốn có được áp lực sâu vào cơ thể? Đừng lo lắng có rất nhiều hoạt động có thể giúp con bạn trong những hoạt động thường ngày. 1. Đẩy và kéo: Trẻ có thể đẩy những chiếc xe đựng đồ khi đi siêu thị cùng bạn, lau nhà, hút bụi, đẩy chiếc thùng to có bạn ngồi trong đó... Tất cả đều là những hoạt động diễn ra hàng ngày và có thể luyện tập thường xuyên cho con bạn. 2. Mang vác vật nặng: Trẻ có thể xách những chiếc túi đựng đầy đồ dùng khi đi siêu thị về, có thể đeo những chiếc balo đựng đầy những đồ chơi... (Hãy để trẻ mang vật nặng vừa sức của con) 3. Xiết chặt: Bạn có thể dùng chiếc gối ấn vào lưng vào tay của trẻ hoặc bạn có thể tạo ra chiếc nem cuốn bằng cách dùng chăn mỏng quận tròn vào người con của bạn... Hãy kiên trì và luyện tập thật nhiều cùng con của bạn. Đường link gốc: https://bit.ly/2WHGcpZProprioception is input to the muscles and joints, for example pressing, pulling, pushing, tight squeezing hugs, and carrying heavy things. Some basic signs that a child has difficulty with proprioception: they like tight, squeezing hugs, and they often sit in narrow spaces. How do you give enough proprioceptive input when all your child wants is deep pressure on the body? Don't worry — there are many activities that can help your child within everyday routines. 1. Pushing and pulling: your child can push the trolley when they go to the supermarket with you, mop the floor, vacuum, push a big box with a friend sitting inside it. These all happen every day and your child can practise them often. 2. Carrying heavy things: your child can carry bags full of shopping on the way back from the supermarket, or wear a backpack filled with toys (let your child carry a weight that suits their size). 3. Squeezing: you can press a pillow against your child's back or arms, or you can make a "spring roll" by rolling your child up in a thin blanket. Be patient and practise a great deal together with your child. Original link: https://bit.ly/2WHGcpZ

Xúc giácTouch

Xúc giác là các cảm nhận trực tiếp qua da thông qua các hoạt động sờ, chạm, ấn, rung... Các vấn đề xúc giác vùng miệng của trẻ có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc ăn uống hằng ngày của trẻ. Một trải nghiệm thật tuyệt vời khi bố mẹ cùng con chạm các ngón tay của mình vào màu nước, cát, xà phòng hay kem cạo râu...và chơi cùng chúng. Nhưng tuyệt đối đừng bao giờ "ép buộc" con bạn phải chạm tay vào màu nước nếu con bạn không thích hãy để bạn nhỏ khám phá nó bằng cách nào đó con muốn: có thể với 1 cây cọ vẽ, hay với 1 chiếc ô tô ... vì nhu cầu của mỗi trẻ là khác nhau, hãy cung cấp đầu vào giác quan "đúng - đủ - phù hợp" cho con của bạn. Phần lớn từ trẻ nhỏ tới người lớn đều gặp vấn đề về các chế độ giác quan vì vậy việc cung cấp đầu vào cho giác quan của trẻ là điều rất quan trọng đặc biệt với trẻ tự kỷ. https://bit.ly/2WHGcpZTouch is what we feel directly through the skin, through touching, pressing, vibration and so on. A child's oral tactile difficulties can directly affect their daily eating and drinking. It is a wonderful experience when parents and child dip their fingers into paint, sand, soap or shaving foam together and play with them. But never, ever "force" your child to put their hands into paint if they don't like it — let your child explore it in whatever way they want: perhaps with a paintbrush, or with a toy car. Every child's needs are different, so give your child sensory input that is "right — enough — suitable". Most people, from young children to adults, have some difficulty with their sensory diet, so giving a child sensory input is very important, especially for autistic children. https://bit.ly/2WHGcpZ

Hệ nội cảmInteroception

Đã bao giờ bạn cảm thấy đói? Thế còn cảm nhận muốn được tắm rửa sạch sẽ thì thế nào? Hay cảm thấy mệt? Đây sẽ là câu hỏi nghe có vẻ dễ hiểu hơn này…. Làm thế nào mà bạn biết rằng bạn đang có cảm giác? Tất cả chúng ta đều có thể cảm nhận điều gì đang xảy ra bên trong và bên ngoài cơ thể dựa vào hệ thống giác quan thứ 8, “giác quan bị dấu kín"_ hệ nội cảm.Have you ever felt hungry? What about the feeling of wanting to get clean? Or feeling tired? Here is a question that may sound easier to follow: how do you know that you are feeling something? All of us can sense what is happening inside and outside our body thanks to the eighth sensory system, the "hidden sense" — interoception.

Hệ nội cảm là gìWhat interoception is

Hệ nội cảm cho chúng ta khả năng cảm nhận những gì đang xảy ra ở bên trong cơ thể. Nó có một bộ phận dây thần kinh thụ cảm rất đặc biệt ở trên khắp cơ thể của chúng ta bao, nằm ở các bộ phận bên trong cơ thể như tim, phổi, ở xương, ở cơ và ở da. Những thụ thể này gửi thông tin tới não bộ để từ đó não bộ xử lý về các cảm giác của con người. Mục tiêu của hệ thụ cảm là giúp cơ thể luôn ở trong trạng thái cân bằng tốt nhất, được gọi là cân bằng nội mô hay hằng định nội mô. Nếu có thể cần năng lượng, bạn cảm thấy đói, bạn sẽ ăn. Nếu bạn cảm thấy mệt, mỏi, bạn sẽ ngủ. Đói, mệt,nhu cầu tắm gội, nhiệt độ cơ thể, buồn nôn, đau, kinh nguyệt…. tất cả những nhu cầu đó được cảm nhận bởi hệ nội cảm. Thêm vào nữa, hệ nội cảm còn chịu trách nhiệm việc cho phép chúng ta có những cảm nhận về cảm xúc (vui, buồn, đau lòng, ngạc nhiên…)Interoception gives us the ability to sense what is happening inside the body. It has a very particular set of receptor nerves all over our body, sitting in the internal organs such as the heart and the lungs, in the bones, in the muscles and in the skin. These receptors send information to the brain, and from there the brain processes what a person is feeling. The aim of this receptor system is to keep the body in the best possible balance, which is called homeostasis. If your body needs energy, you feel hungry and you eat. If you feel tired and worn out, you sleep. Hunger, tiredness, the need to wash, body temperature, nausea, pain, menstruation — all of these needs are sensed by the interoceptive system. On top of that, interoception is also responsible for allowing us to feel emotion (happiness, sadness, heartache, surprise).

Hệ nội cảm và cảm xúcInteroception and emotion

Khi các bạn nghĩ về điều này, tất cả những cảm xúc của chúng ta đều gắn với cảm nhận về thể chất của cơ thể. Ví dụ, khi các bạn đi bộ ra từ một cửa hàng, bạn nhận thấy một người nào đó rạch lên cánh cửa chiếc xe ô tô của bạn một vệt dài mà không để lại lời nhắn nào cả. Bạn có thể cảm nhận thấy cơ của mình căng lên, cổ tay nắm lại, hai hàm răng cắn lại với nhau, tim đập nhanh hơn, và mặt thì nóng lên. Những biểu hiện đó được gọi là cảm giác tức giận. Việc nhận ra những cảm giác đó gắn với hệ nội cảm. Vì vậy, hệ nội cảm gắn với cảm xúc của con người. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng đọc những dấu hiệu thể chất gắn kết trực tiếp với khả năng kiểm soát cảm xúc của một con người. Và vì thế, khi đọc được các dấu hiệu của bản thân, ở một mặt khác lại giúp chúng ta đọc được cảm xúc của những người khác dựa trên biểu hiện cơ thể và cảm xúc của người đó.When you think about it, all of our emotions are tied to physical sensations in the body. For example, you walk out of a shop and notice that someone has scratched a long mark down your car door and left no note at all. You may feel your muscles tighten, your fists clench, your teeth clamp together, your heart beat faster, and your face grow hot. Those signs are what we call the feeling of anger. Recognising those sensations is tied to interoception. So interoception is bound up with our emotions. Research has shown that the ability to read the body's signals is directly linked to a person's ability to manage their emotions. And so, being able to read our own signals in turn helps us read other people's emotions from their body language and their expressions.

Trích nguồn:Sources:

Interoception: The Eighth Sensory System (2016). Retrieved from https://docs.wixstatic.com/…/b303b5_ab07aaedc04c45b3a96e519…Interoception: The Eighth Sensory System (2016). Retrieved from https://docs.wixstatic.com/…/b303b5_ab07aaedc04c45b3a96e519…

Mahler, K. (2017). Interoception: The Eighth Sensory System. Kansas: AAPC Publishing.Mahler, K. (2017). Interoception: The Eighth Sensory System. Kansas: AAPC Publishing.

Mehling, W.E., Proce, C. Daubenmier, J.J., Acree, M. Bartmess, E., & Stewart, A. (2012), The multidimensional assessment of interoceptive awareness (MAIA). PLoS One, 7(11), e48230. Doi:10.1371/journal.pone.0048230.Mehling, W.E., Proce, C. Daubenmier, J.J., Acree, M. Bartmess, E., & Stewart, A. (2012), The multidimensional assessment of interoceptive awareness (MAIA). PLoS One, 7(11), e48230. Doi:10.1371/journal.pone.0048230.

Hệ nội cảm và rối loạn xử lý giác quanInteroception and sensory processing difficulties

The Interoceptive System and Sensory Processing Disorder. #Hệ_nội_cảm_và_Rối_Loạn_Xử_Lý_Giác_Quan. Khi hệ nội cảm làm việc tốt, chúng ta có thể cảm nhận những nhu cầu của bản thân và hành động để thực hiện các nhu cầu đó. Chúng ta có trải nghiệm về cảm xúc và có khả năng nhận diện chính xác mình đang cảm thấy thế nào (hào hứng, phấn khích, buồn, giận….) Nhưng cũng giống như 7 hệ giác quan khác của chúng ta, hệ giác quan này có thể gặp những khó khăn về xử lý giác quan. Một người có thể gặp khó khăn về việc điều tiết trong chính hệ giác quan này. Một người có thể phản ứng thái quá với những tác động về cảm nhận bản thể. Anh ta có thể cảm thấy bị đau hơn hoặc đau lâu hơn so với người khác. Tương tự, một người có thể không có phản ứng gì với các tác động này cả. Cô ta có thể không có phản ứng dù với những thông tin về cảm nhận bản thể. Cô ấy có thể không cảm nhận được đau trừ phi nó phải thật sự rất rất đau. Một người cũng có thể gặp vấn đề về việc phân biệt xử lý giác quan trong hệ nội cảm này. Anh ta có thể nhận thức được những cảm giác rất mờ nhạt từ bên trong nhưng không thể nào xác định chính xác những cảm giác đó diễn ra ở nơi nào và chúng có ý nghĩa gì. Anh ta không thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân mình bởi vì anh ta không thể hiện được chúng là cảm nhận gì. Liệu đó có phải là cảm giác cơ thể mình đang đói hay không cũng không thể phân biệt được? Nhu cầu phải đi vào nhà vệ sinh? Liệu có phải mình đang bị ốm không nhỉ? Làm thế nào để có hành động phù hợp nếu cơ thể không thể gọi tên ra được cảm nhận đó là gì để đưa ra phản ứng phù hợp. Hơn nữa, khi bạn đã gặp khó khăn về việc hiểu về những cảm nhận ở bên trong cơ thể, thì việc hiểu cảm xúc của chính mình cũng trở nên vô vùng khó khăn. Điều này có thể khiến một người bị quá tải về cảm xúc và có các biểu hiện không phù hợp- như là hung hăng, quá trầm tư, cười mãi không ngớt. Các biểu hiện này có thể xảy ra thường xuyên. What Else Does Interoception Impact? Hệ nội cảm còn ảnh hưởng đến những gì khác? Bởi vì hệ nội cảm có nền tảng quan trọng từ việc điều phối các hoạt động thể chất và cảm xúc của chúng ta, nên chẳng bất ngờ gì nếu nó ảnh hưởng trực tiếp tới một số lĩnh vực kỹ năng quan trọng. Những nhóm kỹ năng đó bao gồm: tự kiểm soát bản thân, tự nhận thức, tư duy xã hội, tư duy linh hoạt, giải quyết vấn đề, kỹ năng xã hội bản năng và sự tham gia xã hội. Can You Improve Interoception? Bạn có thể cải thiện hệ nội cảm không? Có, bạn có thể cải thiện khả năng của một người giúp họ có thể hiểu được các thông tin từ hệ nội cảm mang lại. Nghiên cứu chỉ ra rằng hệ nội cảm có thể được cải thiện nếu như làm việc với một chuyên gia về trị liệu hoạt động (OT) người được đào tạo về xử lý giác quan và có thể phát triển cũng như thực hiện những chiến lược cho bệnh nhân ở những vấn đề cụ thể của hệ nội cảm ( ví dụ quá nhạy hoặc quá trơ-không phân biệt được sự khác biệt của các tác động giác quan). Hình thức trị liệu này tập trung vào việc học về những dấu hiệu nội cảm. Tăng cường khả năng nhận thức về nội cảm (IA) bằng cách giúp cho bệnh nhân cảm nhận được các biểu hiện của cơ thể mình, gọi tên và gán ý nghĩa cho chúng, cuối cùng là tăng cường nhận thức về hệ nội cảm để phát triển các kỹ năng liên quan khác. Trích nguồn: Interoception: The Eighth Sensory System (2016). Retrieved from https://docs.wixstatic.com/.../b303b5... Mahler, K. (2017). Interoception: The Eighth Sensory System. Kansas: AAPC Publishing. Mehling, W.E., Proce, C. Daubenmier, J.J., Acree, M. Bartmess, E., & Stewart, A. (2012), The multidimensional assessment of interoceptive awareness (MAIA). PLoS One, 7(11), e48230. Doi:10.1371/journal.pone.0048230.The Interoceptive System and Sensory Processing Disorder. When the interoceptive system is working well, we can sense our own needs and act to meet them. We experience emotion and we are able to identify accurately how we are feeling (eager, excited, sad, angry). But just like our other seven sensory systems, this one can run into sensory processing difficulties. A person may have trouble regulating within this sensory system itself. One person may over-respond to interoceptive input. He may feel more pain, or feel pain for longer, than other people do. In the same way, another person may not respond to this input at all. She may not react even to interoceptive information. She may not feel pain unless it is really, really severe. A person may also have difficulty discriminating sensory information within this interoceptive system. He may be aware of very faint sensations from inside, but be quite unable to pin down where those sensations are happening or what they mean. He cannot meet his own needs because he cannot express what it is that he is feeling. Is this the body feeling hungry, or not — he can't tell the difference? Is it the need to go to the toilet? Am I perhaps getting ill? How can you act appropriately if the body cannot name what the sensation is, so that you can respond to it appropriately? What is more, when you already have difficulty understanding the sensations inside your body, understanding your own emotions becomes extremely difficult too. This can leave a person overloaded with emotion and showing it in ways that don't fit — being aggressive, being too withdrawn and lost in thought, laughing without being able to stop. These can happen often. What Else Does Interoception Impact? Because interoception is such an important foundation for coordinating our physical and emotional activity, it is no surprise that it directly affects a number of important skill areas. Those groups of skills include: self-control, self-awareness, social thinking, flexible thinking, problem solving, intuitive social skills and social participation. Can You Improve Interoception? Yes, you can improve a person's ability to understand the information interoception gives them. Research shows that interoception can be improved by working with a professional in occupational therapy (OT) who is trained in sensory processing and who can develop and carry out strategies for the client in their particular areas of interoceptive difficulty (for example being over-responsive, or being under-responsive and unable to tell the difference between sensory inputs). This form of therapy focuses on learning about interoceptive signals. It builds interoceptive awareness (IA) by helping the client notice what their body is showing them, name those signals and give them meaning, and ultimately by building awareness of the interoceptive system in order to develop the other related skills. Sources: Interoception: The Eighth Sensory System (2016). Retrieved from https://docs.wixstatic.com/.../b303b5... Mahler, K. (2017). Interoception: The Eighth Sensory System. Kansas: AAPC Publishing. Mehling, W.E., Proce, C. Daubenmier, J.J., Acree, M. Bartmess, E., & Stewart, A. (2012), The multidimensional assessment of interoceptive awareness (MAIA). PLoS One, 7(11), e48230. Doi:10.1371/journal.pone.0048230.

Bài của Trung tâm AN. Anh chị có băn khoăn về con mình, nhắn cho An qua Zalo. An article by AN Center. If you have a concern about your child, write to us on Zalo.